VŨ VĂN HIẾU - SỐNG VÌ ĐẢNG MÀ CHẾT CŨNG KHÔNG RỜI ĐẢNG
LỜI NÓI ĐẦU
"Câu chuyện thời lửa”, đã hơn 80 năm kể từ giây phút chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, đất nước chính thức bước vào kỉ nguyên độc lập và tự do.
Dẫu thời gian không ngừng trôi, những năm tháng chiến tranh đã lùi xa, nhưng ký ức về một thời hoa lửa vẫn còn vang vọng trong từng trang sử, từng kỷ vật và trong lời kể của những con người đã dành trọn tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Chính họ đã viết nên những trang sử hào hùng bằng lòng quả cảm, sự hy sinh và ý chí kiên cường, để hôm nay các thế hệ trẻ được sống trong hòa bình, hạnh phúc.
Nhắc đến vùng mỏ Quảng Ninh, không thể không nhắc đến đồng chí Vũ Văn Hiếu – Bí thư đầu tiên của Đặc khu ủy Khu mỏ Quảng Ninh, người chiến sĩ cộng sản kiên trung đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng. Cuộc đời và sự hy sinh anh dũng của đồng chí đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lý tưởng cách mạng với tinh thần bất khuất: "Sống vì Đảng mà chết cũng không rời Đảng."
Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Ninh anh hùng – nơi hội tụ vẻ đẹp của non nước, của những mỏ than giàu truyền thống và những trang sử cách mạng vẻ vang – em luôn tự hào về quê hương mình. Chính niềm tự hào ấy đã thôi thúc em tìm hiểu về cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến to lớn của đồng chí Vũ Văn Hiếu, để góp phần lan tỏa những giá trị lịch sử, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến trong thế hệ trẻ hôm nay.
Thông qua bài dự thi "Câu chuyện thời hoa lửa", em mong muốn tái hiện một phần cuộc đời của người chiến sĩ cách mạng kiên trung, đồng thời gửi gắm thông điệp rằng: lịch sử không chỉ nằm trong những trang sách, mà còn sống mãi trong ký ức của dân tộc và trong trách nhiệm gìn giữ, tiếp nối của mỗi người trẻ Việt Nam.
I.Tuổi trẻ của người chiến sĩ cộng sản Vũ Văn Hiếu
Sinh ra trong thời gian khó khắn nhưng lại lựa chọn một con đường vĩ đại. Đồng chí Vũ Văn Hiếu là một biểu tượng sáng cho một cuộc đời chỉ kéo dài vỏn vẹn 35 năm nhưng đầy ý nghĩa.
Đồng chí Vũ Văn Hiếu (tên khai sinh là Vũ Văn Hiếu, bí danh Sơn) sinh ngày 20 tháng 3 năm 1907 tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Hải Anh, tỉnh Ninh Bình). Đồng chí sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, đông con nhưng giàu truyền thống hiếu học.
Thuở thiếu thời, Hiếu được cô ruột đưa lên Thái Nguyên chăm sóc. Sau khi học xong bậc Tiểu học Pháp - Việt, năm mười năm tuổi đồng chí thi đỗ vào trường Thành Chung Hải Phòng. Thế nhưng cuộc đời đâu giản đơn, biến cố gia đình ấp đến khi người cô của đồng chí qua đời, khiến người thanh niên lúc bấy giờ phải đứng trước ngã ba đường và buộc phải gác lại việc học giữa chừng để tự lập kế mưu sinh.
Cuộc sống bấp bênh, sóng gió là thế nhưng có lẽ trong tâm thức của đồng chí Hiếu chưa từng có phút giây từ bỏ con đường tri thức, đồng trí vẫn tiếp tục theo học tại Trường Kỹ nghệ Thực hành Hải Phòng với mong muốn có một nghề nghiệp ổn định. Chính vì thế mà mở ra cơ duyên gặp gỡ với nhiều thanh niên yêu nước như Lê Quốc Trọng, Lương Khánh Thiện, Hạ Bá Cang,... và tham gia phong trào đấu tranh đòi trả tự do cho nhà chí sĩ Phan Bội Châu. Cuộc đấu tranh ấy đã khiến hơn ba mươi học sinh bị đuổi học và trong đó có Vũ Văn Hiếu. Đây cũng là bước ngoặt đưa người thanh niên yêu nước này đến gần hơn với con đường cách mạng.
II. Từ người thợ mỏ đến người lãnh đaoh phong trào công nhân vùng mỏ
Đầu năm 1928, Vũ Văn Hiếu rời Hải Phòng đến Hòn Gai, nơi người dì ruột đang sinh sống, với hy vọng tìm được việc làm. Đồng chí đã xin vào làm phu mỏ ở tại Sở Mới, trực tiếp lao động trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt. Những chiếc xe goòng nặng trĩu, những trận đòi roi của cai mỏ và cuộc sống thiếu thốn của người công nhân đã giúp đồng chí thấu hiểu sâu sắc nỗi cơ cực của giai cấp lao động dưới ách thống trị của thực dân Pháp.
Do lao động quá sức, sức khỏe suy giảm nghiêm trọng, đồng chí phải nghỉ làm một thời gian. Ngay tại căn nhà nhỏ của người dì ở Hà Tu, đồng chí đã mở lớp dạy chữ miễn phí cho con em thợ mỏ và những người lao động ham học. Những lớp học giản dị ấy không chỉ truyền dạy con chữ mà còn gieo mầm tư tưởng yêu nước và tinh thần đoàn kết trong lòng người công nhân.
Tháng 9 năm 1928, thực hiện chủ trương "vô sản hóa", nhiều cán bộ của Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội được cử đến vùng mỏ. Qua sự giác ngộ của các đồng chí Nguyễn Văn Xứng và Nguyễn Khắc Khang, tháng 11 năm 1929, Vũ Văn Hiếu được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng, lấy bí danh Sơn và được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng tại Hà Tu – Núi Béo.
Không lựa chọn những phương thức tuyên truyền khô cứng, đồng chí đã biến các tụ điểm cờ bạc thành hội "chơi họ" giúp công nhân tương trợ lẫn nhau; thành lập các tổ học chữ, văn nghệ, võ thuật để tập hợp quần chúng và tuyên truyền lý tưởng cách mạng. Nhờ sự gần gũi và sáng tạo ấy, phong trào công nhân Hà Tu ngày càng phát triển, dẫn đến sự ra đời của chi bộ Đảng đầu tiên tại khu vực này.
III.Bí thư Đặc khi ủy đầu tiên của Khu mỏ Quảng Ninh
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3 tháng 2 năm 1930, phong trào cách mạng vùng mỏ bước sang giai đoạn phát triển mạnh mẽ. Đồng chí Vũ Văn Hiếu được phân công phụ trách nhiều cơ sở công nhân tại Nhà máy sàng Hòn Gai và Nhà máy than luyện. Đồng chí trực tiếp lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống đánh đập, chống cúp phạt, đòi tăng lương, giảm giờ làm và bảo vệ quyền lợi của công nhân..
Tháng 4 năm 1930, Đảng ủy Hòn Gai – Cẩm Phả được thành lập và đồng chí được tín nhiệm giữ cương vị Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của đồng chí, các cuộc bãi công, bãi thị diễn ra sôi nổi. Đặc biệt, sáng ngày 1/5/1930, lá cờ đỏ búa liềm tung bay trên đỉnh núi Bài Thơ đã trở thành dấu mốc lịch sử, khẳng định sự trưởng thành của phong trào cách mạng vùng mỏ.
Cuối tháng 10 năm 1930, Trung ương Đảng quyết định thành lập Đặc khu Đông Triều – Hòn Gai – Cẩm Phả. Đồng chí Vũ Văn Hiếu được chỉ định làm Bí thư Đặc khu ủy đầu tiên, trở thành người lãnh đạo cao nhất của phong trào cách mạng vùng mỏ Quảng Ninh khi mới ngoài hai mươi tuổi.
IV. Người cộng sản kiên trung đến hơi thở cuối cùng
Con đường cách mạng của đồng chí Vũ Văn Hiếu là chuỗi ngày đối mặt với tù đày, tra tấn và sự hy sinh.
Đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giữ. Lần thứ hai, ngày 9 tháng 2 năm 1931, đồng chí cùng gần 70 cán bộ, đảng viên bị bắt và bị kết án 20 năm tù cầm cố, đày ra Nhà tù Côn Đảo. Đến năm 1936, đồng chí được trả tự do nhưng ngay lập tức tiếp tục hoạt động cách mạng tại Hà Nội và Trung ương Đảng.
Đêm 17 rạng sáng 18 tháng 1 năm 1940, đồng chí bị bắt lần thứ ba cùng các đồng chí Nguyễn Văn Cừ và Lê Duẩn. Trước khi bị áp giải, đồng chí đã nhận toàn bộ trách nhiệm về mình để bảo vệ tổ chức và đồng đội – một hành động thể hiện tinh thần hy sinh cao cả của người chiến sĩ cộng sản.
Đầu năm 1941, đồng chí bị đày ra Côn Đảo lần thứ hai. Trong điều kiện giam cầm khắc nghiệt, bệnh lao tái phát khiến sức khỏe suy kiệt. Khi biết mình không còn nhiều thời gian, đồng chí đã cởi chiếc áo duy nhất được gửi từ đất liền vào trao cho đồng chí Lê Duẩn và xúc động nói:
"Tôi sắp chết rồi... Tôi nghĩ kỹ rồi, chỉ còn việc này là tôi còn cống hiến được cho Đảng."
Ngày 26 tháng 4 năm 1942, đồng chí Vũ Văn Hiếu trút hơi thở cuối cùng tại Nhà tù Côn Đảo khi mới 35 tuổi. Sự hy sinh của đồng chí đã trở thành biểu tượng bất diệt của tinh thần "Sống vì Đảng mà chết cũng không rời Đảng".
Nhà thơ Tố Hữu đã viết về đồng chí bằng hai câu thơ giản dị nhưng lay động lòng người:
"Chết còn chút áo cho nhau,
Miếng cơm dành để người sau ấm lòng."
V. Đời đời nhớ ơn
Cuộc đời và sự hy sinh của đồng chí Vũ Văn Hiếu đã để lại bài học sâu sắc về lòng yêu nước, tinh thần kiên trung, ý chí vượt qua khó khăn và sự cống hiến hết mình vì Tổ quốc. Đồng chí là tấm gương sáng về người chiến sĩ cộng sản luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, việc tri ân các thế hệ đi trước không chỉ dừng lại ở sự biết ơn, mà còn phải được thể hiện bằng những hành động thiết thực: không ngừng học tập, rèn luyện đạo đức, nâng cao tri thức, giữ gìn và lan tỏa những giá trị lịch sử, phát huy tinh thần "Kỷ luật và Đồng tâm" của vùng mỏ Quảng Ninh, tích cực cống hiến cho cộng đồng và góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.
Lịch sử sẽ mãi là ngọn lửa soi đường cho tương lai. Trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay là tiếp nối ngọn lửa ấy bằng khát vọng vươn lên, tinh thần trách nhiệm và những việc làm thiết thực, để xứng đáng với sự hy sinh của các thế hệ cha anh đã viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc.
Nguồn tài liệu :
Nguồn hình ảnh :
Nguồn tài liệu tham khảo : dangcongsan.vn; congthongtindientuhaiphong.



