Bài viết

VŨ XUÂN THIỀU - ĐÔI CÁNH TUỔI TRẺ GIỮA BẦU TRỜI LỬA ĐẠN

Có những lá thư được viết khi người lính vẫn còn hy vọng trở về nhưng đến ngày người thân nhận được, người viết đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Với Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Xuân Thiều, một bức thư viết dở vào tháng 12 năm 1972 đã trở thành kỷ vật gắn với những ngày cuối cùng của người sinh viên Bách khoa trên bầu trời Tổ quốc.

Hà Nội28/10/2026Bùi Lê Hoàng An (Đại học Bách Khoa Hà Nội)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
VŨ XUÂN THIỀU - ĐÔI CÁNH TUỔI TRẺ GIỮA BẦU TRỜI LỬA ĐẠN

Tháng 12 năm 1972, Hà Nội bước vào những ngày tháng khốc liệt của cuộc tập kích đường không chiến lược do quân đội Mỹ tiến hành. Những chiếc B-52 liên tục xuất hiện trên bầu trời miền Bắc, mang theo bom đạn trút xuống các thành phố, khu dân cư và những cơ sở kinh tế trọng yếu. Giữa cuộc chiến ấy, những phi công của Không quân nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ đánh chặn đối phương trong điều kiện vô cùng nguy hiểm. Trong số họ có Thượng úy Vũ Xuân Thiều, một người con của Hà Nội, từng là sinh viên năm ba ngành Vô tuyến điện tại Đại học Bách khoa Hà Nội trước khi tình nguyện nhập ngũ năm 1965. Con đường từ giảng đường đến buồng lái máy bay chiến đấu đã đưa chàng trai trẻ đến với một nhiệm vụ mà không phải ai cũng có cơ hội trở về sau khi thực hiện.

Sinh năm 1945, quê gốc ở Hải Hậu, Nam Định, Vũ Xuân Thiều lớn lên tại Hà Nội. Năm 1965, khi đang học năm thứ ba tại Đại học Bách khoa Hà Nội, ông tình nguyện nhập ngũ và được tuyển chọn đi đào tạo phi công tại Liên Xô. Sau quá trình học tập, huấn luyện, năm 1968, ông trở về nước, được biên chế vào lực lượng không quân và từng bước trưởng thành trong môi trường chiến đấu. Việc một sinh viên đang theo học ngành kỹ thuật lựa chọn con đường trở thành phi công quân sự là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời ông. Những kiến thức đã học tại giảng đường không thay thế được quá trình huấn luyện chuyên biệt, nhưng nền tảng kỹ thuật, khả năng tư duy và sự chính xác là những yêu cầu không thể thiếu đối với người điều khiển máy bay chiến đấu.

Trong những năm tháng phục vụ quân đội, Vũ Xuân Thiều được giao nhiệm vụ bay đêm, một nhiệm vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn, khả năng phán đoán và bản lĩnh cao. Khi đối phương có ưu thế về lực lượng và sử dụng những phương tiện gây nhiễu hiện đại, việc phát hiện, tiếp cận rồi công kích mục tiêu trên không càng trở nên khó khăn. Thế nhưng, đằng sau người phi công ấy vẫn là một người con có gia đình đang chờ đợi, có những người thân mong ngóng tin tức và có những dự định riêng như bao người trẻ khác. Những lá thư ông gửi về nhà đã lưu giữ một phần đời sống ấy, giúp người đọc hôm nay hình dung rõ hơn về con người phía sau bộ quân phục.

Tháng 12 năm 1972, khi cuộc tập kích đường không của Mỹ ngày càng ác liệt, Vũ Xuân Thiều viết thư gửi cha mẹ. Trong thư, ông bày tỏ sự day dứt khi chứng kiến Hà Nội bị đánh phá mà bản thân chưa có cơ hội trực tiếp lập công. Ông cũng nhắn nhủ gia đình về những hiểm nguy của nhiệm vụ đang thực hiện. Bức thư chưa kịp hoàn thành thì ông nhận lệnh chuyển cấp chiến đấu. Những dòng chữ còn dang dở vì thế mang một ý nghĩa đặc biệt: chúng ghi lại tâm trạng của người phi công trong thời điểm chiến tranh đang ở giai đoạn căng thẳng nhất, khi nhiệm vụ quân sự có thể đến bất cứ lúc nào.

Đối với gia đình, một lá thư từ người con đang ở đơn vị vốn đã là điều đáng quý. Nhưng trong hoàn cảnh chiến tranh, mỗi lá thư còn mang theo nỗi thấp thỏm mà người ở nhà không thể nói thành lời. Cha mẹ có thể tự hào về con mình, nhưng niềm tự hào ấy không làm vơi đi nỗi lo trước những chuyến bay mà người phi công không thể biết chắc kết quả. Những kỷ vật như vậy khiến câu chuyện về Vũ Xuân Thiều không chỉ còn là lịch sử của một trận không chiến. Chúng đưa người đọc đến gần hơn với những con người cụ thể: một người con viết thư cho cha mẹ, một gia đình chờ tin con và những đồng đội hiểu rằng mỗi lần xuất kích đều có thể là lần cuối cùng.

Đêm 28 tháng 12, khi cuộc tập kích đường không vẫn tiếp diễn, Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích từ sân bay dã chiến Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Ông điều khiển chiếc MiG-21, được sở chỉ huy dẫn đường tiếp cận đội hình máy bay Mỹ đang hoạt động trên bầu trời miền Bắc. Đến khu vực Sơn La, ông phát hiện mục tiêu B-52 và xin phép công kích. Trong điều kiện chiến đấu ban đêm, việc tiếp cận mục tiêu đòi hỏi sự phối hợp giữa phi công và lực lượng dẫn đường dưới mặt đất, đồng thời cần quyết đoán trong một khoảng thời gian rất ngắn. Theo các tư liệu quân sự được công bố, Vũ Xuân Thiều đã phóng hai quả tên lửa vào chiếc B-52 ở cự ly gần. Máy bay Mỹ bốc cháy, nhưng chiếc MiG-21 của ông cũng gặp nạn và ông hy sinh. Chiến công ấy được ghi nhận trong lịch sử cuộc chiến đấu bảo vệ bầu trời miền Bắc cuối năm 1972. Sau khi máy bay rơi, đơn vị và nhân dân địa phương tổ chức an táng ông tại Sơn La. Ngày 20 tháng 12 năm 1994, Nhà nước truy tặng Vũ Xuân Thiều danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, ghi nhận chiến công và sự hy sinh của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Từ giảng đường Bách khoa năm nào đến bầu trời Sơn La trong đêm cuối tháng 12 năm 1972, cuộc đời Vũ Xuân Thiều khép lại khi ông mới 27 tuổi. Những năm tháng ông không thể sống tiếp đã trở thành một phần ký ức của gia đình, đồng đội và nhà trường. Bức thư viết dở vẫn nhắc chúng ta rằng người anh hùng trước hết cũng là một con người bình thường, có gia đình để thương nhớ, có những dự định riêng và có một tương lai mà chiến tranh đã lấy đi. Giữ lại câu chuyện của ông vì thế không chỉ là ghi nhớ một chiến công, mà còn là gìn giữ ký ức về một thế hệ đã sống, lựa chọn và cống hiến trong một thời kỳ đặc biệt của lịch sử dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn