Người hoạt động cách mạng trước năm 1945

Vua đại Việt Mai hắc Đế dân tộc Champa

Mai Thúc Loan sinh vào cuối thế kỷ VII tại Ngọc Trừng, Hoan Châu (nay thuộc Nam Đàn, Nghệ An), mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được Đinh Thế nuôi dưỡng, gả con gái Ngọc Tô làm vợ. Ông nổi tiếng khỏe mạnh, giỏi võ, có chí lớn và sớm chiêu mộ hào kiệt để chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 713, trước sự áp bức của nhà Đường, Mai Thúc Loan phát động **Khởi nghĩa Hoan Châu**, xây dựng căn cứ tại Sa Nam và thành Vạn An. Nghĩa quân nhanh chóng phát triển, giải phóng Hoan Châu, tiến ra chiếm Tống Bình và giành quyền tự chủ. Sau thắng lợi, ông lên ngôi **Mai Hắc Đế**, chọn thành Vạn An làm quốc đô, mở ra gần 10 năm độc lập (713–722). Dù sau đó cuộc khởi nghĩa bị nhà Đường đàn áp, Mai Hắc Đế vẫn được ghi nhớ là một trong những vị anh hùng tiêu biểu của thời kỳ chống Bắc thuộc. Công lao của ông được lưu truyền qua nhiều di tích và đặc biệt là **Lễ hội Đền Vua Mai** ở Nam Đàn, Nghệ An, diễn ra vào tháng Giêng hằng năm với nhiều nghi lễ truyền thống và trò chơi dân gian, thể hiện lòng biết ơn và niềm tự hào về tinh thần yêu nước của dân tộc.

Đắk Lắk07/08/2026Xã Tương Dương (Đoàn xã Tương Dương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mai Thúc Loan sinh vào khoảng cuối thế kỷ 7, tại thôn Ngọc Trừng, Hoan Châu, nay thuộc huyện Nam Đàn, Nghệ An, bố Mai Thúc Loan là Mai Sinh là người champa, mẹ là Vương Thị nguyên gốc Lộc Hà – Hà Tĩnh. (Tại xã Mai Phụ huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh hiện nay chỉ còn lại 8 gia đình họ Mai). Năm Mai Thúc Loan 10 tuổi, mẹ đi hái củi bị hổ vồ, ít lâu sau bố cũng mất. Ông được người bạn của bố là Đinh Thế đem nuôi, sau gả con gái là Ngọc Tô cho. Sinh thời Mai Thúc Loan vốn rất khỏe mạnh, giỏi vật, học giỏi và có chí lớn. Ông mở lò vật, lập phường săn, chiêu mộ trai tráng trong vùng nhằm mưu việc lớn. Vợ ông giỏi việc nông trang, nhờ đó “gia sản ngày một nhiều, môn hạ ngày một đông”.

Nhờ chí du ngoạn lại được vợ hết lòng ủng hộ, Mai Thúc Loan kết thân với nhiều hào kiệt, sau này trở thành những tướng tài tụ nghĩa dưới lá cờ của ông như Phòng Hậu, Thôi Thặng, Đàn Du Vân, Mai Hoành, Tùng Thu, Tiết Anh, Hoắc Đan, Khổng Qua, Cam Hề, Sỹ Lâm, Bộ Tân,…

Khởi nghĩa Hoan Châu do Mai Thúc Loan lãnh đạo nổ ra vào năm Khai Nguyên thứ nhất đời vua Đường Huyền Tông ở Trung Hoa, tức năm Quý Sửu (713). Khởi nghĩa nổ ra tại Rú Đụn, còn gọi là Hùng Sơn (Nghệ An). Tương truyền lúc đó ông cùng đoàn phu gánh vải nộp cho nhà Đường, đã kêu gọi các phu gánh vải nổi dậy chống quân Đường. (“cống vải” là một chi tiết của truyền thuyết, sưu cao, thuế nặng mới là nguyên nhân khiến nhân dân nổi dậy chống lại ách đô hộ nhà Đường, nổi bật là khởi nghĩa Hoan Châu). Đây là cuộc khởi nghĩa có sự chuẩn bị, biết chọn thời cơ, không phải một cuộc bạo động. Năm 713, Mai Thúc Loan dựng cờ khởi nghĩa, tập hợp phường săn quanh vùng có đến mấy trăm người để thêm sức mạnh. Chọn Sa Nam làm căn cứ đã cho thấy tầm nhìn quân sự của ông bởi địa thế này vừa có thế công cũng có thể thủ. Căn cứ có Rú Đụn hiểm trở và kín đáo, hai bên có sông Lam bao bọc. Ông cho xây đắp chiến lũy thành Vạn An ở ngay thị trấn Nam Đàn bây giờ, chứa voi trận, khí giới, vũ khí, lương thực dự bị để tính kế lâu dài. Khi binh hùng tướng mạnh, căn cứ vững chắc, nhân dân một lòng ủng hộ, chẳng mấy chốc Mai Thúc Loan đã thu được một vùng đất đai rộng lớn, trước hết chiếm giữ Hoan Châu làm căn cứ, sau đó mở rộng thế lực ra các châu huyện rồi tiến công đánh chiếm Tống Bình phủ thành (nay là Hà Nội) giải phóng cả nước. Mai Thúc Loan đã xưng đế (tức vua Mai Hắc Đế), chọn thành Vạn An (Nam Đàn, Nghệ An) làm quốc đô. Dưới sự trị vì của Mai Hắc Đế, nước ta đã giành được độc lập, tự chủ trong gần 10 năm (713 - 722). Cùng với khởi nghĩa Hai Bà Trưng, khởi nghĩa Lý Bí, khởi nghĩa Phùng Hưng, công cuộc giành quyền tự chủ của Khúc Thừa Dụ - Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ và chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, khởi nghĩa Hoan Châu của Mai Thúc Loan là một trong những cuộc khởi nghĩa vào loại lớn nhất của thời kỳ chống Bắc thuộc, là một trong những mốc son quan trọng trên con đường đấu tranh giành độc lập của dân tộc, phá vỡ vòng tròn luẩn quẩn 1000 năm Bắc thuộc. Ý nghĩa và bài học lịch sử của cuộc khởi nghĩa này vẫn vẹn nguyên giá trị trong công cuộc xây dựng, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.  Công ơn của Mai Thúc Loan và nghĩa quân đến ngàn đời sau vẫn luôn được biết đến như những chiến công hiển hách nhất của dân tộc. Cũng từ chiến công đó mà tạo nên một lễ hội có một không hai ở Nghệ An: Lễ hội Đền Vua Mai, lễ hội đã góp phần tô thắm thêm giá trị lịch sử - văn hóa hào hùng của xứ Nghệ nói riêng, cả nước nói chung. Lễ hội Đền Vua Mai mang đậm nét văn hóa truyền thống gắn liền với những truyền thuyết, sự tích lịch sử về Mai Hắc Đế và nghĩa quân. Lễ hội là một di sản phi vật thể của quê hương Nam Đàn, mang đầy đủ hai yếu tố lễ và hội. Phần lễ bao gồm lễ Mộc dục, lễ Khai quang, lễ Yết cáo, lễ Rước nước, lễ Đại tế và lễ Tạ. Ngày 13 tháng Giêng sẽ tiến hành các lễ: Rước nước, Mộc dục, Tế Gia quan. Ngày 15 tháng Giêng là ngày Đại tế (lễ Tế thần) có ý nghĩa thỉnh mời và đón rước các chư vị thần linh về dự hội để dân làng chúc tụng, tỏ lòng biết ơn đấng thần linh. Đây là nghi lễ trang trọng nhất trong hệ thống lễ kỳ Đại tế có thể kéo dài đến hết ngày 17 tháng Giêng.

 Phần hội cũng diễn ra không kém phần sôi nổi. Ban ngày, du khách thập phương sẽ được hòa mình vào các trò chơi dân gian gắn liền với truyền thuyết, sự tích lịch sử Vua Mai và nghĩa quân, được trở về với những nét văn hóa xa xưa rất đỗi thú vị như đua thuyền, cờ thẻ, chọi gà, du tiên, đấu vật... Ban đêm được thưởng thức dư vị ngọt ngào của làn điệu ca trù, ví phường vải, chèo, tuồng, hát giao duyên... Không chỉ dừng lại ở đó, trong những ngày diễn ra lễ hội, nhân dân còn chuẩn bị thêm cỗ cúng dâng lên đền thờ vì người dân cho rằng lễ hội không chỉ là để mời linh hồn Vua Mai, tướng lĩnh của ngài mà còn là không gian cho cả những người đã mất, những người của quá khứ về dự hội. Phần cỗ này sau khi cúng tế sẽ được bày biện mời khách thập phương. 

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn