Khác

Vua - Lý Thái Tổ

Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖, 8 tháng 3 năm 974 – 31 tháng 3 năm 1028) là hoàng đế sáng lập ra nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì đất nước trong 18 năm, từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028. Xuất thân là tướng lĩnh của nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn dần được thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, và có được uy tín trong triều đình. Đến khi vua Lê Đại Hành mất, triều chính nhà Lê đi vào rối loạn bởi sự tranh đoạt ngôi vị giữa các hoàng tử. Cuộc tranh ngôi chính thức kết thúc khi Lê Long Đĩnh lên n

Vĩnh Long03/04/2026ĐOÀN XÃ CÁI NGANG (ĐOÀN XÃ CÁI NGANG)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lý Thái Tổ (chữ Hán: 李太祖, 8 tháng 3 năm 974 – 31 tháng 3 năm 1028) là hoàng đế sáng lập ra nhà Lý trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì đất nước trong 18 năm, từ năm 1009 đến khi qua đời vào năm 1028.

Xuất thân là tướng lĩnh của nhà Tiền Lê, Lý Công Uẩn dần được thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ, và có được uy tín trong triều đình. Đến khi vua Lê Đại Hành mất, triều chính nhà Lê đi vào rối loạn bởi sự tranh đoạt ngôi vị giữa các hoàng tử. Cuộc tranh ngôi chính thức kết thúc khi Lê Long Đĩnh lên ngôi hoàng đế. Tuy nhiên, vua Long Đĩnh vắn số nên chỉ trị vì được 4 năm rồi mất. Với uy tín và danh tiếng rộng khắp thiên hạ, Lý Công Uẩn được triều thần tôn lên làm vua, chính thức lập ra nhà Lý,[1] triều đại đầu tiên của Việt Nam tồn tại dài lâu với 216 năm lịch sử đầy thăng trầm.

Một trong những thành tựu nổi trội nhất của vua là việc dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội) vào năm 1010, đổi tên thành Thăng Long, mở đầu cho sự phát triển lâu dài của nhà Lý, và cũng chính thức khởi đầu lịch sử hơn 1000 năm của thủ đô Thăng Long - Hà Nội. Bên cạnh đó, Đại Cồ Việt dưới thời Lý Công Uẩn cũng đạt được nhiều thành tựu nổi bật khác như phát triển kinh tế, nông nghiệp, cải cách địa giới - hành chính, định lại hệ thống thuế khóa, phát triển Phật giáo. Về quân sự, vương triều của Lý Công Uẩn cũng đánh dẹp được hết các thế lực chống đối và các cuộc nổi loạn trong nước, đánh bại Đại Lý, Chiêm Thành, khiến lòng người đều quy phục, các lân bang như Chiêm Thành, Chân Lạp đều chịu triều cống, nhà Tống cũng không cậy thế để sách nhiễu mà phải giữ ôn hòa với Đại Cồ Việt. 18 năm của vương triều Lý Công Uẩn đã tạo nền móng vững chắc cho sự kế thừa và phát triển của các đời vua sau này. Với những đóng góp to lớn cho lịch sử đất nước, Lý Công Uẩn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp vào danh sách 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam.[2] Nhiều công trình đền thờ, tượng đài được xây dựng để tưởng nhớ đến ông, nhiều con đường và trường học cũng được đặt theo tên ông. Tuy nhiên, vua cũng ít nhiều nhận lời phê phán từ các sử gia hậu thế vì việc sùng đạo Phật quá mức dẫn đến mê tín, dị đoan,[3] cũng như chưa chú trọng phát triển giáo dục cho đất nước.

Thân thế

Lý Thái Tổ tên khai sinh là Lý Công Uẩn, sinh năm Giáp Tuất (974), người châu Cổ Pháp (nay thuộc phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), mẹ người họ Phạm,[4] nhưng không rõ danh tính của cha, chỉ biết ông được truy tôn tước Hiển Khánh vương sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi. Các sử liệu như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử lược hay Việt Nam sử lược đều chỉ chép mẹ Lý Công Uẩn là Phạm thị, chỉ có nguồn dã sử từ cụm di tích ở Dương Lôi (Từ Sơn, Bắc Ninh) cho rằng bà tên là Phạm Thị Ngà. Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử đều chép rằng bà Phạm thị đi chơi ở chùa Tiêu Sơn rồi giao hợp với người thân và sinh ra Công Uẩn.[4][7]

Đại Việt sử lược chép Công Uẩn có một anh trai (sau phong Vũ Uy vương) và một em trai (sau phong Dực Thánh vương). Đại Việt sử ký toàn thư chép ông còn có một người chú được phong Vũ Đạo vương.

Lên 3 tuổi, Lý Công Uẩn được mẹ mang mang đến nhà sư Lý Khánh Văn rồi được sư nhận nuôi ở chùa Cổ Pháp (Ứng Tâm tự, chùa Dặn). Từ nhỏ, Công Uẩn đã tỏ ra thông minh và tuấn tú khác thường. Năm 6 - 7 tuổi, Công Uẩn được gửi sang chùa Lục Tổ để học sư Vạn Hạnh, một vị tăng sĩ trứ danh, uyên bác lúc bấy giờ. Thấy Công Uẩn, sư Vạn Hạnh liền khen: "Đứa bé này không phải người thường, lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ."

Đến tuổi trưởng thành, Công Uẩn tỏ ra là người khảng khái, có chí lớn, không màn của cải, phú quý mà chỉ thích xem kinh sử nhưng chỉ xem qua loa.[4] Theo Ngọc phả các vua triều Lê ở vùng Bảo Thái - Hà Nam (nay thuộc Ninh Bình) và tư liệu tại các di tích ở Cố đô Hoa Lư, Công Uẩn hàng năm theo Thiền sư Vạn Hạnh vào hầu Lê Đại Hành ở Hoa Lư. Công Uẩn được vua cho ở lại kinh học tập quân sự, lại gả con gái lớn là công chúa Lê Thị Phất Ngân và đặc phong Công Uẩn làm Điện tiền cận vệ ở Hoa Lư, rồi dần thăng lên chức Điện tiền Chỉ huy sứ.[11] Đại Việt sử lược và Đại Việt sử ký tiền biên[a] lại chép vào khoảng niên hiệu Ứng Thiên (994-1005) thời Lê Đại Hành, Công Uẩn theo phò triều Lê.[10][12] Khâm định Việt sử Thông giám cương mục thì chép Công Uẩn theo phò triều Lê vào giữa niên hiệu Ứng Thiên.[13] Đến năm 1003, vua Lê Đại Hành bắt đầu đau ốm, đến năm 1005 thì mất. Còn những năm trước đó trong niên hiệu Ứng Thiên, vua Đại Thành thường đi đánh giặc và đều toàn thắng. Vì thế, rất có thể Lý Công Uẩn đã được vua gả công chúa Phất Ngân rồi hầu vua và được vua phong các chức quan thuộc võ ban trong triều vào những năm giữa niên hiệu Ứng Thiên từ 1000 đến 1003. Các sử liệu về niên hiệu Ứng Thiên này không chép gì về công trạng của Công Uẩn với vua Đại Hành.

Năm 1005, Lê Đại Hành băng hà, các hoàng tử tranh đoạt ngôi vị, đánh nhau suốt cả 8 tháng. Đến cuối năm 1005, Lê Long Việt giành được ngôi vua, tức Lê Trung Tông, nhưng chỉ 3 ngày thì bị Lê Long Đĩnh giết để giành ngôi.[15] Các quan sợ hãi bỏ chạy, chỉ có Công Uẩn ôm xác vua mà khóc. Lê Long Đĩnh không trị tội mà còn khen ông là người trung nghĩa, tiếp tục trọng dụng, cho làm Tứ sương quân Phó Chỉ huy sứ, rồi sau thăng đến chức Tả thân vệ Điện tiền Chỉ huy sứ. Đây cũng là lần đầu tiên mà chính sử nhắc đến Lý Công Uẩn. Trước đó, trong cuộc chiến tranh ngôi của các hoàng tử nhà Lê, chỉ có Đại Việt sử ký tiền biên chép rằng Lý Công Uẩn đứng về phe Long Việt[ còn các bộ sử khác đều không chép rõ Lý Công Uẩn đứng về phe nào, nhưng nhìn chung thì cũng có thể phỏng đoán rằng Công Uẩn đứng về phe Long Việt, thông qua việc Công Uẩn ôm xác vua mà khóc. Bối cảnh trong nước ở thời điểm đó cực kỳ rối ren, bởi triều đình đến tận 8 tháng không có vua. Phải đến khi Long Đĩnh lên ngôi và đánh dẹp hết các vương chống đối thì trong nước mới được yên, các vương và giặc cướp đều hàng phục.

Trước khi Long Việt bị ám sát và Long Đĩnh lên ngôi, ở chùa Ứng Thiên Tâm, châu Cổ Pháp có con chó sinh con lông trắng với đốm lông đen thành hình hai chữ "Thiên tử". Kẻ thức giả khi ấy cho đó là điềm có người sinh năm Tuất làm thiên tử. Lý Công Uẩn cũng sinh vào năm Tuất 974.

Trong 5 năm trị vì (1005 - 1009), Lê Long Đĩnh thực hiện nhiều cuộc đánh dẹp loạn đảng trong nước, đồng thời đối mặt với những áp lực ngoại giao và hiểm họa xâm lăng từ nhà Tống. Sử không chép gì về hoạt động của Lý Công Uẩn vào thời điểm ấy. Các cuộc đánh dẹp loạn đảng của Long Đĩnh đều được sử chép rõ rằng vua thân chinh đi đánh giặc, chứ không nhắc đến việc Long Đĩnh xuống chiếu cho Lý Công Uẩn hay một tướng nào khác đi đánh. Đến những việc làm sai trái của vua như việc vua hiếu sát, thích hành hạ dã man tù binh bại trận, triều cương vô phép, cho bọn hề giễu cợt lời tâu của các quan đại thần,... thì sử cũng không chép về việc Lý Công Uẩn hay bất cứ quan nào khác trong triều can gián vua về những chuyện ấy (trong khi sử các đời vua sau đều nhắc đến việc triều thần can gián vua). Đại Việt sử ký toàn thư có chép chuyện dã sử về việc Long Đĩnh vì đam mê tửu sắc nên mắc bệnh trĩ, chứ không nói gì đến hoạt động triều chính của Công Uẩn trong 5 năm trị vì của Long Đĩnh. Duy chỉ có An Nam chí lược của sử gia gốc Việt Lê Tắc đời Nguyên chép vắn tắt rằng: "[Lý Công Uẩn] Người Giao Châu (có kẻ bảo là người Phúc Kiến, không đúng), có tài thao lược, Lê Chí Trung dùng làm đại tướng, rất thân tín."

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn