Bài viết

Vua Quang Trung (1)

Lạng Sơn21/01/2026báo nhân dân (ĐOÀN XÃ BA SƠN)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Vào tháng 9 [19/10-16/11/1789], Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An tâu rằng em Cựu hoàng Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chi tụ tập dân thiểu số nỗi dậy tại Cao Bằng. Vua Càn Long cho rằng cuộc nỗi dậy sẽ thất bại, nên dặn Khang An nếu Duy Chi thế cùng xin tá túc, hãy theo lệ Hoàng Công Toản trước kia, chấp thuận. Lại tiên liệu Vua Quang Trung có thể xin đem Duy Chi về nước, căn dặn Phúc Khang An viện lẽ tổ tiên họ Lê xưng thần đã lâu, đáng lưu Duy Chi lại nội địa, để được cùng an sáp như anh của y:

Ngày 22 tháng 9 năm Càn Long thứ 54 [9/11/1789]. Lại dụ rằng: Phúc Khang An tâu:

‘Em của Lê Duy Kỳ là Lê Duy Chi ẩn náu tại vùng Bảo Lạc nước An Nam, cùng với Hoàng Văn Thông tụ tập dân Thổ, công phá vùng Mục Mã, bị thủ hạ của Nguyễn Quang Bình đánh bại.’

Sau khi anh y đến quan ải, Lê Duy Chi cùng khốn trốn tránh không có đường về; vận họ Lê đổi dời, toàn nước An Nam vào tay Nguyễn Quang Bình. Lê Duy Chi là con thứ thuộc dòng nhà Lê, nếu sức có thể mưu đồ cùng Nguyễn Quang Bình tương tranh, thì cũng hợp tình lý. Nhưng Nguyễn Quang Bình đã được phong tước, thanh thế ắt phải gia tăng. Lê Duy Chi muốn thu thập thần dân cũ, mưu đồ khôi phục, xét về thời thế không thể làm được. Còn Nguyễn Quang Bình muốn trừ hậu hoạn sẽ tung quân bốn phương để tầm nã Lê Duy Chi, sự việc sẽ xẩy ra như vậy. Nếu như Lê Duy Chi, nhân bị Nguyễn Quang Bình đánh bại, đến xin tị nạn tại nội địa, thì cũng được cùng an trí với Lê Duy Kỳ. Trước đây Hoàng Công Toản (1) với tư cách là một Di mục xin đầu thuận, cũng được thu nạp, há có lý nào không dung nạp con cháu Tôn thất nhà Lê.

Nếu trong tương lai Lê Duy Chi không xin vào nội địa thì thôi; trường hợp Lê Duy Chi xin vào tá túc; Nguyễn Quang Bình có bẩm xin được thưởng cho đem trở về nước, thì Phúc Khang An hãy dụ rằng:

‘Lê Duy Kỳ là kẻ nhu nhược không có khả năng, chạy trốn để mất nước; tuy nhiên họ Lê đã được phong làm Phiên thần hơn 100 năm nay, tuy có gây hấn với Quốc vương, nhưng không có tội với Thiên triều. Nay Lê Duy Chi thế cùng đến đầu thuận, nghĩ đến việc tổ tiên xưng thần đã lâu, đáng lưu lại nội địa để được cùng an sáp với anh của y. Đại Hoàng đế phủ ngự nhân dân trong ngoài nước, hết sức công chính, cùng đối xử chung một lòng nhân. Hiện nay Quốc vương hối lỗi, có lòng thành đầu thuận, được ban cho tước hiệu. Há lại đem người họ Lê kia bị trời ghét, để phù trì một lần nữa ư! Nay Quốc vương được cai trị cả nước An Nam, lại muốn đem cho cháu họ Lê ra để tru lục tất cả, nên Trẫm không nỡ cho đi.” … (Cao Tông Thực Lục quyển 1339, trang 15-16)

Tổng Đốc Phúc Khang An tâu việc Tri Điền Châu Sầm Nghi Đống tử trận, con trai là Sầm Dục thuộc hàng thứ, nên chờ người cháu đích tôn là Sầm Dụ Khải trưởng thành, sẽ cho cho thế tập (2). Theo ý Vua Càn Long, cứ cho Sầm Dục thế tập; nếu làm việc tốt đến đời sau, con y và Sầm Dụ Khải đều được thế tập:

Ngày 13 tháng 10 năm Càn Long thứ 54 [29/11/1789]. Dụ: Cứ lời tâu của Phúc Khang An:

‘Đã điều tra rõ viên Tri châu Thổ Điền Châu Sầm Nghi Đống bị giặc vây vào ngày mồng 5 tháng Giêng năm nay [30/1/1789], thực bị thương trận vong, xin chiếu chỉ ban cho bộ, để nghị định việc thưởng tuất.’

Lại nêu việc thế tập tại Điền Châu như sau:

‘Con của Sầm Nghi Đống là Sầm Dục, thuộc hàng thứ, theo lệ không phù hợp để thế tập; xin tạm cho thi hành Hiệp lý [tạm xử lý công việc] đợi cháu đích tôn của y là Sầm Dụ Khải trưởng thành lại cho thế tập.’

Sầm Nghi Đống là viên Thổ tù được thế tập nơi biên giới, hiểu rõ đại nghĩa, lúc quan binh đánh An Nam bèn mang quân trợ chiến, lại ruổi ngựa giết giặc, lâm trận liều thân, tình thực đáng thương. Trước đây nỗ lực công vụ, được viên Tổng đốc Lý Thị Nghiêu tâu rõ, bèn thưởng mũ đỉnh đái hàng tứ phẩm; nay giao bộ theo lệ ra nghị định thưởng tuất theo hàng tứ phẩm.

Về chức vụ Tri châu Thổ Điền Châu; căn cứ sự điều tra rõ ràng của Phúc Khang An, người con thứ tư là Sầm Dục bản tính thuần lương, vậy cũng không nên câu nệ đích, thứ; hãy ra lệnh Sầm Dục thừa tập, quản lý mọi việc trong châu. Nhưng Tri châu chỉ thuộc vào hàng ngũ phẩm, nay Sầm Nghi Đống gắng sức phấn đấu lại bị trận vong nên Sầm Dục cũng được gia ân đội mũ đỉnh đái hàng tứ phẩm. Sau khi Sầm Dục thừa tập, nếu quả thực có thể kế thừa gia thanh, trước sau cần mẫn ra sức; tương lai khi đến lượt con y thừa tập cũng được thu dụng; bất quá chia đất ra để ban chức và vẫn được lãnh Tri châu đỉnh đái, để tỏ lòng ưu tuất bề tôi cần lao, cùng được đối xử chung một lòng nhân.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1340, trang 15-16)

Ngày mồng 1 tháng 8 [19/9/1789] ;Thành Lâm viên quan người Mãn Châu, mang sắc phong, cùng thơ Ngự chế từ Quảng Tây khởi hành đến An Nam. Sau khi đến nơi được đón tiếp trọng thể. Y cho biết Vua Quang Trung nghe tin, bèn dừng việc đôn đốc xây thành tại Nghệ An, đi ra Bắc ngay; nhưng chẳng may giữa đường bị bệnh, đợi thuyên giảm sẽ đến nghênh đón tại thành Thăng Long:

Ngày 17 tháng 10 năm Càn Long thứ 54 [3/12/1789]. Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh tâu:

‘Cứ theo lời bọn Thành Lâm bẩm xưng rằng vào ngày 23 tháng 9 [10/11/1789] đến địa phương Gia Quất [xã Gia Quất, huyện Gia Lâm, Bắc Ninh]; Nguyễn Quang Bình sai con là Quang Thùy, cùng quan viên hơn một trăm người, cung kính dâng tờ trình của Nguyễn Quang Bình. Nội dụng xưng rằng vào tháng 8 đang lo việc xây thành tại Nghĩa An [Nghệ An] (3), thì tiếp nhận được tin biết rằng đã được phong chức An Nam Quốc vương, bèn đình chỉ việc xây thành rồi khởi hành ngay. Đi đến huyện Đông Thành [Nghệ An], chẳng may bị bệnh, phải tạm lưu lại để điều trị, đợi ngày thuyên giảm sẽ đến thành nhà Lê, kính cẩn nghênh đón ân mệnh. Thành Lâm lại bẩm xưng rằng sau khi ra khỏi quan ải, Nguyễn Quang Bình sai quan văn là bọn Lê Xuân Tài, đốc suất 500 vệ sĩ hộ tống nghi trượng long đình rất nghiêm túc, sáng chiều hành lễ hết sức cung kính.’

Dụ Quân Cơ Đại thần: Nguyễn Quang Bình được tin Thiên triều cho người mang sắc thư cùng thơ Ngự chế đến tuyên phong, bèn cho đình hoãn việc xây thành, đến thành nhà Lê gấp để dự bị làm lễ cung nghênh, sự hân hoan cảm khích phát ra tự tấm lòng thành. Hiện nay nhân vướng bệnh chưa khỏi, trên đường đi phải tạm dừng để điều trị, bèn sai con nhỏ cùng Bồi thần đến nghênh đón, lại bẩm xin triển hạn ngày thụ phong. Điều này do thực tình, không cần trách cứ việc dời ngày. Kể từ khi Thành Lâm bẩm xưng đến nay đã đến hai tuần [20 ngày]; bệnh tình Nguyễn Quang Bình chắc đã thuyên giảm, ắt phải đến thành nhà Lê gấp, chọn ngày tốt để thụ phong. Nay truyền dụ cho Tôn Vĩnh Thanh đợi khi Thành Lâm bẩm báo tiếp về việc ngày nào Nguyễn Quang Bình đến thành nhà Lê, ngày nào làm lễ tuyên phong, hãy phúc tấu gấp.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1341, trang 1-2)

Mười ngày sau Vua Càn Long nhận được lời tâu của Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh báo tin bệnh tình Vua Quang Trung đã thuyên giảm, tiếp tục cuộc hành trình và có thể làm lễ nhận sắc phong trước ngày 20 tháng 10 [6/12/1789]. Vua Càn Long sai Tôn Vĩnh Thanh gửi lời ủy lạo Vua Quang Trung cùng tặng quà:

Ngày 27 tháng 10 năm Càn Long thứ 54 [13/12/1789]. Dụ Quân Cơ Đại thần: Tôn Vĩnh Thanh tâu:

‘Nhận được tờ biểu của Thành Lâm xưng rằng bệnh của Nguyễn Quang Bình đã thuyên giảm, bắt đầu khởi hành từ Nghĩa An [Nghệ An] vào ngày mồng 3 tháng 10 [19/11/1789] để đến thành nhà Lê và có thể tới nơi vào khoảng giữa tháng. Thành Lâm định chọn giờ tốt trước ngày 20 để hành lễ; lại xưng rằng bọn Ngô Văn Sở xin năm sau được tháp tùng Nguyễn Quang Bình cùng đến kinh đô, để chúc thọ.’

Sự liệu biện rất tốt! Nguyễn Quang Bình nghe tin Thiên triều sai viên chức cung kính mang sắc thư, cùng thơ Ngự chế đến tuyên phong, bèn đình chỉ việc xây thành, đi gấp đến thành nhà Lê. Nhân dọc đường bị bệnh, tạm dừng tại Nghĩa An [Nghệ An]. Nay bệnh của viên Quốc vương đã thuyên giảm, bèn báo cho Thành Lâm biết đã khởi hành vào ngày mồng 3 tháng 10, lúc này chắc đã đến thành nhà Lê và hoàn thành lễ tuyên phong; Trẫm rất vui mừng.

Nay truyền dụ cho Tôn Vĩnh Thanh báo cho viên Quốc vương hay rằng:

‘Quốc vương nghe tin Thiên triều sai người đến sắc phong, bèn lập tức khởi trình đến thành nhà Lê, dọc đường chẳng may bị bệnh nhẹ, tạm lưu tại Nghĩa An [Nghệ An] để điều trị. Nay bệnh tình đã thuyên giảm, Quốc vương trình tấu xác nhận rằng đang trên đường đi tiếp. Bản Bộ viện đem sự tình tâu lên, Đại Hoàng đế hết sức khen lao và ủy lạo rất nhiều, đặc ân ban cho một mâm san hô Triều Châu, một đôi Ngự dụng đại hà bao, hai đôi tiểu hà bao; ghi nhận sự vui mừng và chúc bệnh tình thuyên giảm. Lại truyền thêm rằng nước của Quốc vương mới lập, mọi việc cần phải sửa sang liệu lý; nghe rằng Ngô Văn Sở là bầy tôi đắc lực, nếu năm sau cùng với Quốc vương đến kinh khuyết, thì trong nước không có người trông coi, đối với quốc sự có phần quan hệ. Ngô Văn Sở nặng tình muốn chiêm cận, thì không ngại đợi kỳ tới khi Quốc vương chúc thọ trở về, nhân lễ cống kỳ sau hãy ra lệnh cho Ngô Văn Sở đến kinh khuyết để toại tấm lòng thành chiêm ngưỡng. Đây là đặc cách ban ơn của Đại Hoàng đế, có nhiều bề thể tuất, ra lệnh cho Bản Bộ viện truyền cho Quốc vương. Hãy dốc một lòng ngưỡng vọng, để mãi mãi được hưởng ân điển.’…” (Cao Tông Thực Lục quyển 1341, trang16-18)

Thành Lâm cho biết lễ tuyên phong cử hành vào ngày 15 tháng 10 [1/12/1789], sau đó Vua Quang Trung sai bọn Bồi thần Nguyễn Hoằng Khuông tháp tùng Thành Lâm đến triều Thanh làm lễ tạ ơn:

Ngày 3 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [19/12/1789]. Lại dụ: Tôn Vĩnh Thanh tâu:

‘Theo lời bẩm của Thành Lâm: Nguyễn Quang Bình đến thành nhà Lê vào ngày 14 tháng 10 [30/11/1789], chọn giờ tốt vào ngày 15 làm lễ tuyên phong. Nguyễn Quang Bình hoan hỷ cảm động phát ra tự tấm lòng thành, định vào tháng 3 năm sau đến kinh khuyết làm lễ chúc thọ.’ Trước đó sai Bồi thần tháp tùng Thành Lâm đến quan ải để làm lễ tiến cống, tạ ơn. Hiện cho Bồi thần tạm dừng tại vùng Thái bình, Nam Ninh; đợi nhận chỉ dụ tuân hành. Còn những cống vật tiến cống theo niên lệ, thì chiếu theo lệ cũ cho phái viên hộ tống đến kinh sư vv….’

Nguyễn Quang Bình kính cẩn nhận tước phong được làm Phiên thần, sự hoan hỷ cảm khích trong thâm tâm biểu lộ ở lòng chí thành, bèn trình tiến cống vật để tạ ơn; đáng ban thưởng cho thu nhận. Những Bồi thần sai đi, hiện cùng Thành Lâm đến quan ải. Nay truyền lệnh cho Phúc Khang An và Tôn Vĩnh Thanh lập tức sai Ủy viên hộ tống đến kinh gấp. Như cuối năm đến nơi, có thể cùng Sứ thần các nước Ba Lặc Bố [thuộc Tây Tạng], Tiêm La dự lễ lớn đầu năm, để toại tấm lòng thành chiêm ngưỡng. Nếu như tính toán hành trình đi nhanh không kịp, thì nên đến kinh đô vào dịp hoa đăng, ngõ hầu cùng các ngoại phiên Mông Cổ dự yến, được ban thưởng thêm, ngưỡng gội ơn mưa móc. Các Bồi thần mang đồ tiến cống, cũng được đi cùng Cống sứ dâng biểu tạ ơn, để đến kinh đô cùng một lượt.” (Cao Tông Thực Lục quyển 1342, trang 6)

Vua Quang Trung sai bồi thần theo Thành Lâm sang nhà Thanh cống tạ ơn, lại hứa tháng 3 năm sau làm lễ chiêm bái; Vua Càn Long bằng lòng và cho tính vào kỳ cống lần sau, lại có thơ Ngự chế ban cho:

Ngày 4 tháng Một năm Càn Long thứ 54 [20/12/1789]. Lại dụ: Cứ theo lời Tôn Vĩnh Thanh tâu:

‘Sau khi Thành Lâm đến thành nhà Lê, chọn giờ tốt vào ngày 15 tháng 10 [1/12/1789] tuyên đọc chiếu chỉ, phong Nguyễn Quang Bình chức An Nam Quốc vương. Viên Quốc vương kính cẩn nhận ân mệnh, niềm cảm xúc vui mừng biểu lộ bởi lòng chí thành; định vào tháng 3 năm sau đích thân đến kinh đô cung chúc vạn thọ. Hiện cung kính sai Bồi thần dâng biểu văn, cung tiến lễ cống phẩm tạ ơn, lại riêng một lễ theo lệ cống hàng năm.’

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn