Vững vàng trước bom đạn
Thời điểm đó, TNXP phải đối mặt rất nhiều thử thách. Thiếu thuốc đặc trị, nhiều người không chống chọi nổi với bệnh sốt rét rừng. Bà Hương kể tiếp: “Để hành trang bớt nặng, nhiều người chỉ mặc một bộ đồ dính da. Dưới rừng tràm là nước phèn mặn nhưng ngày nào chúng tôi cũng lội xuống. Đầu tóc bết rệt, mình đầy ghẻ lở, mặt mày đen sạm. Bữa ăn thì bẻ kèo nèo và lá giang độn cơm, vì khi đó gạo rất quý”.
Sau khi tập huấn, bà Hương được xếp vào đại đội Nguyễn Việt Khái 2 (vận chuyển
đoạn từ Campuchia về Hà Tiên) – chặng khốc liệt bậc nhất trên tuyến đường 1C.
Đầu năm 1967, từ Cà Mau, bà cùng hàng trăm TNXP chèo xuồng đi Campuchia.
“Chiếc xuồng chở được khoảng 10 người, nhưng chỉ có 1 hoặc 2 người đi thôi vì
còn chở gạo, súng đạn về. Xuồng có thể chở 400 – 500 kg hàng hóa”, bà kể.
Hành quân qua rừng tràm Hà Tiên là một trong những kỷ niệm khó quên, bởi địa
hình nơi đây có tới 3 mùa. Ngoài mùa nước nổi, mùa khô, còn có mùa “lỡ nước, lỡ
khô” nên có đoạn chèo xuồng, có đoạn phải vác xuồng đi bộ. Bà vừa nói vừa diễn
tả: “Trên vai mỗi người lúc nào cũng có khoảng 30 kg, nào là gạo, đồ cá nhân, thuốc
men, súng đạn. Nhiều chị nhỏ con thấy thương lắm, đất lún ngang hông, ba lô chấp
tới nước”.
Thời điểm đó, TNXP phải đối mặt rất nhiều thử thách. Thiếu thuốc đặc trị, nhiều
người không chống chọi nổi với bệnh sốt rét rừng. Bà Hương kể tiếp: “Để hành
trang bớt nặng, nhiều người chỉ mặc một bộ đồ dính da. Dưới rừng tràm là nước
phèn mặn nhưng ngày nào chúng tôi cũng lội xuống. Đầu tóc bết rệt, mình đầy ghẻ
lở, mặt mày đen sạm. Bữa ăn thì bẻ kèo nèo và lá giang độn cơm, vì khi đó gạo rất
quý”.
Vững vàng trước bom đạn
Dọc biên giới VN – Campuchia là kênh Vĩnh Tế. Đối phương bắn phá dữ dội hòng
ngăn chặn TNXP qua nước bạn nhận hàng. Để tránh tai mắt địch, bộ đội ít đi xuồng
mà được hỗ trợ lội qua sông. “Hồi đó, ai cũng lội giỏi, dù trên vai quải ba lô cá nhân,
1 cây súng AK, mấy băng đạn và mang thêm chiếc bao đựng ba lô của các anh.
Qua kênh Vĩnh Tế là một thử thách lớn, vì rủi ro chết chóc trên đầu, còn bên dưới có
rất nhiều đỉa”, bà Hương nhớ lại.
Trong hành trình vận tải, đại đội nhiều lần ở sát biệt kích đối phương. Khi bọn họ
không phát hiện, mọi người bình tĩnh rút lui. Bởi một đại đội có rất đông thanh niên
và bộ đội, một khi bị lộ sẽ thiệt hại rất nhiều. Sau đó, để tránh bị phát hiện từ xa, đối
phương chuyển sang chiến thuật nằm vùng phục kích, dùng thuyền thả theo dòng
kênh Vĩnh Tế để không gây tiếng động. TNXP đã nhiều phen chạm trán bất ngờ với
kẻ địch, ai cũng quả cảm chiến đấu tới cùng, những người bị bắt sống thà chết chứ
không để lộ thông tin. Sự hy sinh anh dũng của những đồng đội như anh Tám Ngô,
chị Năm Bê, chị Hồng Láng…, bà Hương nhớ mãi không quên.
Một khi tuyến đường bị lộ thì đại đội sẽ vạch ra lối đi bí mật khác. Vì thế 1C không
phải độc đạo mà là hệ thống đường linh hoạt cả thủy lẫn bộ. Có lúc đại đội băng qua
kênh Vĩnh Tế, nhưng cũng có khi không qua sông mà đi vòng theo hướng rừng núi,
men theo lộ Cái Sắn, lộ Vòng Cung… để chuyển hàng về điểm tiếp nhận.
Biết quân ta trú trong rừng nên địch để mắt nhiều hơn. Mỗi sáng, khoảng 7 giờ là đối
phương đã quần thảo, máy bay B52 liên tục thả bom oanh tạc. Trong rừng đầy bẫy
bom bi, có đoạn phải vừa đi vừa gỡ mìn.
Tuy nhiên, lửa khói đã không nung chảy được ý chí thép của TNXP. Họ đã làm nên
tuyến đường 1C huyền thoại, vốn được ví như đường Trường Sơn ở đồng bằng, đi
vào lịch sử dân tộc như một biểu tượng về bản lĩnh, trí tuệ và lòng yêu nước cao
đẹp của những chàng trai, cô gái tuổi đôi mươi.
Hoàn thành sứ mệnh tại tuyến đường 1C, năm 1970, bà Hương ra chiến trường
miền Đông Nam bộ làm quân y, công việc là băng rừng vận chuyển thương binh đi
điều trị. Tại đây, bà quen người bộ đội Nguyễn Ngọc Tâm (năm nay 76 tuổi, quê
Hưng Yên), là y tá hành chính tại Bệnh viện K71. Tuy nhiên, từ năm 1973, khi bà
Hương hành quân ra miền Bắc thì hai người mất liên lạc. Mãi đến sau năm 1975, bà
chuyển về Quân khu 7 thì gặp lại ông Tâm, rồi hai người kết hôn và về Cần Thơ
sinh sống.



