Vương Thừa Vũ - Vị tướng mang cốt cách người Hà Nội
Là người chỉ huy Mặt trận Hà Nội trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, chặn địch trong suốt 2 tháng trời. Cũng chính ông chỉ huy cuộc rút quân thần kỳ ra khỏi Thủ đô, để rồi 8 năm sau, lại là người dẫn đầu đoàn quân chiến thắng về tiếp quản Hà Nội. Ông chính là Trung tướng Vương Thừa Vũ – người con ưu tú của Hà Nội - vị tướng tài ba, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam hiện lưu giữ nhiều hiện vật về ông.
Ông sinh ngày 21/12/1910, tại làng Vĩnh Ninh, xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông nay thuộc huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội trong một gia đình nghèo. Cha mẹ đặt tên cho ông là Nguyễn Văn Đồi. Lớn lên, ông theo cha sang Vân Nam (Trung Quốc) sinh sống, làm việc ở nhà máy xe lửa Vân Nam. Năm 1937, ông thi đỗ vào trường quân sự Hoàng Phố. Tại đây, ông đã gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Lê Thiết Hùng… và dần có cảm tình với những người Cộng sản.
Năm 1940, ông trốn về nước tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1941, ông bị thực dân Pháp bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò, năm 1942 bị chúng đưa lên trại giam Bá Vân (Thái Nguyên), sau đó đưa lên trại giam Nghĩa Lộ. Trong tù, ông cùng những người tù Cộng sản tham gia công tác binh vận, phụ trách huấn luyện quân sự. Năm 1943, ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, ông cùng các bạn tù ở trại giam tại Nghĩa Lộ, Yên Bái vượt ngục.
Sau khi trốn thoát khỏi nhà tù Nghĩa, ông lạc vào núi Pá Hu (xã Pá Hu, Trạm Tấu, Yên Bái). Người dân trong bản tưởng ông là tay chân của quân Pháp nên bắt trói lại, đưa ra mép vực chuẩn bị bắn và cắt lấy đầu. Rất may, ông biết tiếng của họ và thoáng nghe họ gọi nhau là Vương nên khi có một người đàn ông đứng tuổi bước đến hỏi: “Mày họ gì?” thì ông buột miệng trả lời là họ Vương. Người đó ôm chầm lấy ông, quay ra vui vẻ nói với bà con đứng xung quanh: “Anh em, anh em ta đây. Anh Vương cùng cảnh ngộ như bà con ta cả đấy. Người Việt Nam ta cả đấy!”.
Cách mạng tháng Tám thành công, khi làm việc với ông Nguyễn Khang - Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Bắc Bộ, ông Khang bảo ông nên đổi tên khác để hoạt động công khai. Nhớ lại kỷ niệm sâu sắc ở vùng núi Pá Hu, ông nói: “Từ nay tôi tên là Vương Thừa Vũ!”
Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội
Sau khi gây hấn ở Nam Bộ, quân Pháp âm mưu mở rộng xâm lược ra miền Bắc. Kế hoạch của chúng là trước hết đánh chiếm Hà Nội, từ đó mở rộng đánh chiếm cả miền Bắc. Đoán được âm mưu đó, Trung ương Đảng nhận định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh ta, ta nhất định phải đánh lại chúng. Ban Thường vụ Trung ương Đảng chọn cho Mặt trận Hà Nội một vị chỉ huy dũng cảm, đó là Vương Thừa Vũ.
Theo lịch hẹn, ngày 15/10/1946, ông có mặt ở “dinh Tổng đốc Hà Đông”. Thường vụ Trung ương Đảng đang họp ở đó. Thấy ông đến, cuộc họp tạm ngừng. Đồng chí Trường Chinh tự tay xếp thêm một cái ghế và thân mật bảo ông: “Đồng chí Vũ ngồi đây… Thường vụ mời đồng chí đến đây để trao nhiệm vụ mới rất quan trọng, tin rằng đồng chí có thể gánh vác được… Trung ương Đảng giao cho đồng chí làm Chỉ huy trưởng Quân khu II, tức là Quân khu đặc biệt Hà Nội”. Đồng chí Trường Chinh căn dặn: “Hà Nội phải được chuẩn bị sẵn sàng, đề phòng địch trở mặt gây hấn. Nếu chúng cố tình tấn công đánh chiếm Hà Nội thì ta phải lập tức đánh trả ngay, phải ghìm được địch ở trong thủ đô một thời gian để hậu phương ta có điều kiện yên ổn chuyển sang kháng chiến…”
Theo chỉ thị của Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Tổng chỉ huy chỉ đạo Mặt trận Hà Nội nghiên cứu phương án tác chiến. Với vai trò Chỉ huy trưởng, ông đã đề xuất cách đánh địch theo chiến thuật “cài then cửa” hay còn gọi “trùng độc chiến”. Trong những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến, ông đã có quyết định kịp thời, điều động các tiểu đoàn vệ quốc quân vừa chặn, vừa đánh bằng chiến thuật hết sức sáng tạo, thần diệu “hóa chỉnh, vi linh” trên địa bàn các phố cổ, các cửa ô, các làng, xã ngoại thành…Ông và các chiến sỹ Mặt trận Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cầm chân được quân Pháp tại nội đô suốt 60 ngày đêm (gấp đôi thời gian quy định).
Để đảm bảo bí mật cho cuộc rút lui của Trung đoàn Thủ Đô, Bộ chỉ huy mặt trận điều động các đơn vị quấy rối, biệt kích, tập kích nghi binh vào các vị trí của địch ở ngoại thành để thu hút sự chú ý và đối phó của chúng ra ngoài. Mặt khác, bản thân Liên khu I cũng đánh mạnh, giữ hoạt động bình thường. Kế hoạch này, gọi là “cường công mật rút”. 9 giờ tối ngày 15/2/1947, Tiểu đoàn 145 tổ chức lực lượng tiến vào tập kích quân địch ở Đông Ngạc, Mai Dịch, Chèm, Cổ Nhuế, Hoài Đức và tung các tổ du kích luồn vào sau lưng địch để tăng cường quấy rối, phá hoại, buộc chúng phải chú ý bảo vệ ngoại thành.
Ngày 17/2/1947, Bộ chỉ huy mặt trận ra lệnh cho quân ta tiếp tục nổ súng trên toàn mặt trận thực hiện thu hút lực lượng của địch ra các bên ngoài để Trung đoàn Thủ Đô rời khỏi Liên khu I về căn cứ. Đó là trận Hạ Yên ngày 18/2/1947. Về sự kiện này, ngày 21/2/1947, Chỉ huy Mặt trận Hà Nội đã có công văn báo cáo Bộ Tổng chỉ huy. Công văn hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam mang số 7735-Gi-1849.
Đại đoàn trưởng đầu tiên của Đại đoàn Quân Tiên phong
Mùa xuân năm 1949, Đại tá Vương Thừa Vũ đang làm nhiệm vụ tại Quân khu IV, trực tiếp phụ trách Phân khu trưởng phân khu Bình - Trị - Thiên. Ông được thông báo của Trung ương quyết định thành lập đại đoàn chủ lực đầu tiên. Ngày 28/8/1949, tại thị trấn Đồn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, Đại đoàn chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam mang phiên hiệu Đại đoàn 308 (Đại đoàn Quân Tiên phong) được thành lập. Ông được cử làm Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đại đoàn (đến năm 1951, đồng chí Song Hào thay ông làm Chính ủy).


