Vượt cửa tử Đà Rằng: Bản lĩnh người chiến sĩ 1955
Đoạn trích kể về cuộc hành quân bí mật kéo dài gần 3 tháng (từ tháng 8/1955) của đội đặc công do anh Bảy Hữu và tác giả chỉ huy, từ miền Bắc trở lại căn cứ Đá Bàn (Khánh Hòa). Trong lớp vỏ bọc là một tiểu đội lính cộng hòa, đoàn quân đã trải qua những giây phút "ngàn cân treo sợi tóc": từ việc bò qua hàng quân địch đang ngủ say trên đường số 7, đến cuộc vượt sông Đà Rằng dữ dội trong lũ dữ với sự giúp đỡ thầm lặng của một ông già chài lưới. Đặc biệt, đoạn kết cho thấy sự tinh nhuệ của đặc công
Đầu tháng 8 năm 1955, từ một địa điểm thuộc Quân khu IV, chúng tôi lên đường bằng một chiếc xe tải phủ bạt kín, vẫn còn sơn bóng màu rêu.
Đúng là một tiểu đội lính “ngụy” thực thụ, súng Pháp thắt lưng, bi đông Pháp. Còn anh Nguyễn Xuân Hữu trong bộ đồ bà ba đen vời cây súng ngắn bên hông, giống như một nhân viên cao cấp của cơ quan tình báo cùng vời một tiểu đội có trang bị máy truyền tin 15 oát trên đường thực thi một công vụ đặc biệt gì đó. Cách cải trang này đã thực sự giúp chúng tôi thoát nhiều trường họp gay cấn. Phải giữ bí mật ngay cả với anh em, nên anh Hữu chỉ góp ý kiến qua tôi, mọi việc điều hành trên dọc đường do tôi trực tiếp với đon vị.
Xe đưa chúng tôi đến thị trấn Hồ Xá, rẽ quặt hướng tây lên thượng nguồn sông Bến Hải vào lúc mặt trời vừa lặn. Trời nhà nhem tối, chủng tôi xuống ô tô, tạm biệt miền Bắc thân yêu, lội qua khúc cạn, nước chưa đến đầu gối, sang đến bờ Nam là trời đã tối hẳn. Từ đây cứ cắt rừng mà đi theo hướng nam. Không lạc hướng nhưng đầy khó khăn vất vả.
Kế hoạch hành trình định từng ngày. Tùy theo tình hình cụ thể mỗi cung đoạn mà quyết định đêm nghỉ ngày đi hay ngược lai có khi ngày nghỉ đêm đi. Vào thời điểm này bắt đầu có mưa rừng Trường Sơn nên nhiều lúc phải nghỉ cả ngày chờ nước rút mới vượt sông được. Từ giới tuyến đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định nói chung là trót lọt, ít gặp địch. Nhưng chui lủi, cắt rừng cũng phải mất gần hai tháng chúng tôi mới tới địa phận tỉnh Phú Yên. Từ đây tình hình phức tạp, căng thẳng cả thiên tai và địch họa, nhất là trên các vùng giáp ranh giữa núi và đồng bằng, địch gia tăng lục soát, tuần phòng.
Khi đoàn vượt qua đường số 7 thuộc địa phận Thanh Hội, xã Sơn Hà thì gặp sự cố. Chúng tôi đến đây khoảng lối tám giờ tối. Ở đây vừa có mưa to, nước đồng đầy ắp lội đến thắt lưng. Toàn đội chúng tôi dừng lại kiểm tra súng đạn, hành lý, sẵn sàng tranh thủ băng qua, chậm là không có lợi, nếu trời đổ mưa tiếp thì khó mà vượt qua đường 7 và sông Đà Rằng nội trong đêm, mặc dầu khoảng cách đoạn đường không đầy mười cây số.
Điểm phải vượt trước là dãy quán ở hai bên đường chỉ dùng bán bánh kẹo và nước mát cho khách qua lại lúc ban ngày. Theo tin tức nắm đước, địch thường hay càn phục ở đoạn này, cho nên trước khi vượt, toàn đội chúng tôi dừng lại, và tôi cử N.T và chú Ba lên trước thăm dò, sau đó đứng gác ở hai đầu đoạn đường cách dãy quán năm mươi mét. Đêm tối trời lại vừa mưa, đi rất khó, đường trơn và rất dễ lạc nhau. Vận động đến cách dãy quán năm mươi mét, ngửi thấy có mùi khét của quần áo lính, sau khi ra hiệu cho toàn đội dừng lại tôi vượt lên quan sát, nghe ngóng. Càng tới gần mùi khét càng rõ. Tôi nhẹ nhàng bò tới. Đến mép đường thì phát hiện có địch đang nằm ngủ ngổn ngang trong quán. Đúng là bọn này vừa đi tuần phục về mệt mỏi, nằm vật vã ngủ liền.
Tình thế thật hiểm nghèo! Vòng tránh ư? Đêm tối đen như mực này biết hướng nào mà đi. Tôi bò quay lại báo cáo với anh Hữu. Lúc này đa quá gần địch, nên khi trao đổi phải ghé sát vào tai nhau mới nghe rõ. Tôi đề nghị với anh Hữu cứ tranh thủ cho vượt ngay, vì địch đang ngủ như chết.
- Đi đường nào? - Anh Hữu hỏi.
- Đi giữa khoảng cách hai tốp địch đang ngủ, tuy mạo hiểm nhưng chắc chắn không gặp lính gác.
Đúng là cái khoảng vượt đầy mạo hiểm, nhưng nếu tranh thủ thời cơ lúc này và động tác đi của mỗi người thật lẹ làng thì phần thắng lợi có thể tính trước. Vì lý do gì đó, chẳng hạn chậm không quyết đoán, đến lúc địch tạm no giấc, chúng tỉnh dậy, như vậy là lỡ thời cơ, tiến lui đều không được nữa.
Sau khi thống nhất quyết tâm với anh Bảy Hữu, tôi ra hiệu cho toàn đội tiếp tục tiến!
Màn đêm tiếp tục dăng dày vì có thêm lớp sương đêm. Hơn chục con người với đầy đủ súng đạn, tư trang và thuốc men đeo lủng lẳng quanh người, có cả máy truyền tin 15 oát, phải qua một lối đi ngắn thôi nhưng hẹp, hai bên là địch đang nằm la liệt ngủ. Đúng là kỹ thuật đi lẹ của đặc công lúc này đã phát huy tác dụng. Chúng tôi lần lượt đi qua một cửa tử mà chưa biết gọi gì trong thuật ngữ quân sự. Tôi đi sau cùng càng thấy rõ tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”! Mùi khét của quần áo lính có dính nước mưa trở thành một thứ mùi khăn khẳn khó chịu. Tiếng ngáy của bon địch cứ thi nhau phát ra hòa thành một âm thanh gầm gừ kéo dài và ngắt quãng.
Trót lọt! Tôi tự nhủ thầm với mình. Tất cả đã qua đường.
Trước mắt là một cánh đồng lúa ngập nước và một xóm nhỏ kề bên mà chúng tôi phải vượt qua trước khi đến mép sông Đà Rằng - một con sông dài, rộng và hung dữ nhất của miền Trung. Đầu óc lúc này bớt căng, thần kinh chùng xuống, người cảm thấy nhẹ nhõm, khoan khoái. Nào ngờ ngay lúc đó, khi một đồng chí đi đầu vừa lội xuống ruộng sâu, mới bước được một bước, gây động, chó sủa liền, rất dữ, hướng về phía chúng tôi đang lội. Có động, địch vùng dậy, phản ứng đầu tiên là chúng bắn loạn xạ như vãi đạn về hướng chó cắn, sau đó là tiếng hò đuổi bắt. Tôi rất lo, hay là đã có ai bị địch bắt? Vừa lúc ấy thì N.T hớt hải chạy đến, vừa nói vừa thở như thanh minh: mãi lúc có tiếng súng nổ tôi mới biết là có địch nằm ngay ở cạnh mình vì trời quá tối không nhìn thấy gì. Tôi thấy nhẹ nhõm. Ta không bị sa vào tay địch là quý rồi. Nhưng còn chú Ba chưa thấy về, như vậy là thế nào. Chú bị lạc hay bị địch bắt. Đã đến lúc không cho phép trù trừ. Lộ rồi, phải nhanh chóng vượt khỏi nơi đây. Chậm phứt nào nguy phút ấy, địch sẽ chặn đầu, khóa đuôi thì gay go, có muốn gỡ ra cũng khó. Vả lại, cung đường phải đi trong đêm nay còn qua sông Đà Rằng, chậm nữa, trời sáng thì khó lòng ra khỏi vòng vây của quân thù. Đang lúc rất căng thẳng như thế thì nghe tiếng chú Ba tôi la to, rất gần. Thôi thế là nguy rồi! Chú Ba đã bị địch bắt. Buồn lo lại đến với tôi cùng một lúc. Sao lại để xảy ra nông nỗi này. Tôi ân hận và tự trách mình như thế!
Chúng tôi băng thật nhanh qua cánh đồng. Lợi dụng tiếng chó sủa, tiếng súng địch bắn dọa mà vận động. Bỗng trời đổ mưa, mưa rất to! Chúng tôi đi càng nhanh. Tiếng chó không còn và tiếng sủng địch cũng thôi bắn. Chỉ có mưa rơi và sấm chóp lóe sáng bầu trời, soi rõ con đường cho đoàn quân đi. Nỗi lo đối phó địch rượt đuổi bổ vây có vợi đi nhưng tôi vẫn nghĩ về chú Ba.
Khoảng gần chín giờ tới chúng tôi đến bờ sông Đà Rằng, đứng ở đoạn dự định vượt qua thì một khó khăn mới lại xuất hiện. Lũ trên nguồn đổ về ngập cả bãi ven sông và nước chảy xiết. Nhìn dòng nước cuồn cuộn từ thượng nguồn đổ về với tiếng gầm réo dữ tợn, mỗi lúc một dâng cao, lan rộng mà thấy ngán. Điểm đứng này thuộc thôn Thanh Hội, xã Sơn Hà, cách thị xã Tuy Hòa không xa lắm.
Bằng bất cứ giá nào cũng phải vượt sông trong đêm nay. Tôi trình bày quyết tâm này với anh Hữu. Được anh Hữu chấp thuận, một cuộc họp bàn quân sự dân chủ diễn ra ngay trên bờ sông nước lũ vẫn đang đổ về. Quần áo mọi người vẫn còn ướt sũng. Trong đêm tối chỉ nghe giọng nói run run, cũng đủ biết anh em đang thấm lạnh. Một lần nữa tôi càng tự hào về những người đồng đội của mình khi đưa vào danh sách đề nghị lên cấp trên cho được nhận nhiệm vụ trở lại đợt này. Cuộc trao đổi diễn ra rất nhanh - phải qua sông. Chúng tôi tập trung tất cả dây dù lại để nối bện thật chắc, cột chặt một đầu ở bên này sông, đầu kia giao cho N.T cầm, bơi sang bờ nam, tim chỗ cột chắc tạo thành tay vịn cho đoàn quân bám vào đó lần bơi sang. Chỉ sau hai mưoi phút là N.T đã có một đầu dây để lần bơi sang bờ bên kia. Nhìn dáng điệu gọn gàng nhanh nhẹn như người quen nghề sông nước của N.T tôi yên tâm. Đoạn đầu nước mới ngập trên đầu gối, N.T vẫn vượt lên dòng xiết mà đi. Chúng tôi đứng trên bờ vì trời tôi không nhìn rõ sự thể sau đó ra sao, vẫn cứ tin N.T qua được, hy vọng chiếc dây sẽ nối được đôi bờ, đưa đoàn quân vượt qua một khúc hiểm nghèo.
Một tiếng chờ đợi đã qua. Từ rất tin và ngóng mong tin tức, dán mắt theo dõi ánh lửa ám hiệu từ bờ nam của N.T đến nghi ngờ là anh đã gặp điều không may, có thể bị nước cuốn trôi khi ra đến chỗ sâu.
Đang lúc phân vân, lo lắng chưa biết gỡ bí cách nào thì thật may có một ông già trên 50 tuổi, người cao to vác chiếc ghe câu (thuyền câu cá cỡ nhỏ) từ phía hạ lưu đi ngược lên.
Tôi đành liều đến gần, vừa như muốn chặn ngang, rồi ôn tồn thưa chuyện:
- Bác có thể cho tụi tôi mượn tạm chiếc ghe câu để đưa anh em qua sông, xong xin hoàn lại.
Đưa mắt nhìn chúng tôi một lượt rất nhanh, ông nói to:
- Bọn các ông ở gần đây nè, ra đó nhập bọn mà qua.
Thế là nghĩa làm sao? Thật khó hiểu, tôi ôn tồn nói khó, biểu lộ một cách thực tình là người đằng mình nhờ ông giúp đỡ, thì ông lại nói to, chứ không hẳn khước từ. Cũng may là lúc này tuy đã ngớt mưa nhưng sấm chớp vẫn liên hồi ầm ì cả một không gian rộng nên không sợ địch nghe thấy.
Tôi vẫn vừa ôn tồn, vừa một tay cầm nhẹ vào thành thuyền, cố ỷ giữ ông lại để tiếp tục thuyết phục. Mà phải giữ lại thật, vì nếu ông đi, sự việc sẽ phiền phức, khó lường. Nhưng vừa kéo lại, tôi vân kiên trì năn nỉ nhờ ông giúp đỡ. Hình như trước sự ôn tồn và kiên quyết của tôi, sự giằng đi của ông đã bớt kiên quyết.
Tôi tranh thủ thuyết phục trực diện hơn nhưng vẫn là để người nghe hiểu cách nào cũng được:
- Bác thông cảm cho, chúng tôi là người tốt, đang thực sự gặp khó khăn...
Trầm tĩnh, thận trọng và kín đáo có phải là tư chất của ông hay không, chỉ biết rằng từ phút này, tuy không nói rõ là cho mượn nhưng ông cũng khồng giằng lại nữa, cái ghe câu vì vậy mà cứ từ từ ngả sang tay tôi.
Được thuyền, tôi khẩn trương tổ chức cho anh em lần lượt vượt sông. Vì thuyền bé nên phải đi nhiều chuyến. Sau anh Hữu, là đến máy thông tin 15 oát để kịp giờ liên lạc với ngoài Hà Nội...
Tôi ngồi cạnh ông già, để điều hành cuộc vượt sông, cũng là để theo dõi thái độ của ông, vì dù sao vẫn phải thận trọng và cảnh giác. Ông già vẫn ngồi, im lặng nhìn anh em vượt sông nhưng trong đầu óc ông hình như đang có sự suy nghĩ gì đó.
Đến lượt tôi là người đi sau cùng. Tôi sửa soạn lại trang bị cho gọn chặt và đưa tay ra nắm lấy tay ông tạm biệt, ông hơi lúng túng, rồi cũng đưa tay nắm lấy tay tôi lắc mạnh theo nhịp lắc của tôi. Tôi siết chặt tay ông và nói:
- Thay mặt anh em. xin chân thành cám ơn bác. Nhưng cũng mong được bác giúp chúng tôi đến đoạn chót, bác vui lòng sang bên đó với tôi để nhận thuyền về.
Tôi vẫn nắm chặt tay ông và chờ đợi sự quyết định của ông. Rất có thể ông không chấp nhận yêu cầu theo chúng tôi sang bên kia sông nếu ông không biết chúng tôi là người như thế nào. Nhưng ông già không trả lời mà kéo tay tôi đi xuống con thuyền đang chờ. Tôi vui sướng bước theo ông. Chúng tôi ngồi thuyền vượt sông. Ông vẫn không nói mà chỉ tập trung điều khiển con thuyền qua sông một cách rất thành thạo của những người đã có bề dày của nghề sông nước.
Thuyền cặp bờ nam, tôi siết chặt tay ông lần cuối:
- Một lần nữa xin chân thành cám ơn bác. - Tôi xúc động thực sự nói tiếp như để nhấn mạnh - Tất cả anh em chúng tôi không bao giờ quên ơn bác...
Ông già vẫn lầm lì khó hiểu. Lúc đầu thế nào bây giờ cũng thế, gần như không nói, bây giờ cũng vậy. ông chỉ trân trân nhìn thẳng vào mặt tôi - một cái nhìn kín đáo, thăm dò và trả lời bằng một từ gọn lỏn quen thuộc: “Dạ”.
Vừa lúc đó thì N.T từ phía hạ lưu điểm vượt cũng tìm được về. Đúng là nước chảy xiết đã cuốn anh, may mà anh giạt được vào một bụi tre ngập nước và thoát được lên bờ. Cuộc vượt sông thắng lợi. Xốc lại đội hình, chúng tôi lại đi tiếp trong đêm, vì ở đây vẫn còn là vùng nguy hiểm, thuộc phạm vi kiểm soát nghiêm ngặt của địch. Đêm hôm ấy và cả ngày hôm sau, tôi sống trong một tâm trạng vui buồn lẫn lộn! Vui là đã cùng anh em vượt qua hai lần nguy hiểm, giờ đây có thể tự tin mà nói trước rằng toàn đội đã thoát ra khỏi vòng vây của quân thù, con đường trở lại quê hương đã được rút ngắn. Cái đích của cuộc hành quân đang ở trong tầm với. Buồn - một nỗi buồn day dứt là chú Ba tôi không còn cùng đồng đội đi tiếp cuộc hành trình, để được chiến đấu trên chính quê hương mình.
Và một nỗi lo dai dẳng không kém là nếu chú Ba tôi vì sức yếu không chịu được đòn thù thì ảnh hưởng thế nào với công việc cấp trên giao cho? Và như vậy địch sẽ hiểu được chiều sâu của chuyến đi, chúng sẽ đánh phá ta trước khi ta triển khai thực hiện nhiệm vụ.
Cả ngày hôm sau đội công tác chúng tôi nằm lại trên một ngọn đồi, cây mọc lúp xúp và thưa quang. Suốt ngày đội nắng - cái nắng cũng thật gay gắt chói chang. Sớm mai quần áo mọi người còn sũng nước, gần trưa đã khô rang, khát nước đến cháy họng. Nhưng đâu chỉ có ráng chịu cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà còn phải lo đối phó với quân thù bất thần ập tới. Bất cứ địch đến theo cung cách nào thì chúng tôi vẫn ở trong cái thế lọt giữa vòng vây.
Chiều về, mặt trời lặn nhanh, khuất sau dãy múi Trường Sơn xa mờ. Gió từ biển thổi vào làm tan nhanh cái nóng, mọi người thấy dễ chịu, oi nồng đã nhường chỗ cho mát dịu. Tất cả đều thở phào khoan khoái. Không có hiện tượng hoạt động khác lạ gì của địch. Tôi thầm phán đoán: như vậy là chú Ba tôi tuy sa vào tay địch nhưng chúng vẫn không khai thác được gì; ông già làm nghề chài lưới trên sông Đà Rằng chắc chắn là người tốt, nên địch có mắt vẫn như mù. Chúng không hề hay biết gì về hoạt động của chúng tôi. Và niềm vui trong tôi cũng có nét riêng, nó nảy sinh từ trong nỗi lo nên tôi càng xúc động mạnh, khi về tới Khánh Hòa thì cũng là lúc chú Ba tôi thoát khỏi địch ngay trong đêm hôm ấy rồi tự mình cắt rừng theo hướng Đá Bàn mà tìm về với đội ngũ.
Chú cháu gặp nhau mừng tủi xen lẫn. Tôi tần ngần ngắm chú một lúc rồi mới hỏi luôn:
- Sao lúc đó chú la dữ vậy?
- Tao la to cốt báo cho tụi bay biết là tao đã bị địch bắt, liệu mà tìm đường thoát, chứ đứng có vô đây là nó quây liền.
Lúc đó tôi cũng thoáng nghĩ như vậy. Quả là một hành động thông minh, một ám hiệu đáng quý của người chiến sĩ đặc công. Chú Ba - một người ra đời trong áp bức bất công, không biết trường học là gì, mù chữ cho đến lúc ấy, nói ít nhưng khi hữu sự thi lại rất sáng suốt, lo toan đủ điều, khi được Đảng giáo dục thì luôn luôn hành động vì tập thể, vì đồng đội không quản gian khổ, hy sinh. Trong tình cảm của tôi, chú Ba vừa là người chú kính yêu người cha thân thương, người đồng chí, đồng đội tin cậy.
Đoàn quân lại lầm lũi đi trong đêm, chếch hướng tây - nam đi về Dốc Nón - điểm tiếp giáp giữa Phú Yên và Khánh Hòa thì cũng vừa đúng một cung đường cần nghỉ lấy sức tiếp tục cuộc hành trình. Mảnh đất quê hương đây rồi! Ai cũng muốn reo lên một tiếng với nỗi xúc động bồn chồn. Dốc Nón là đỉnh mút của con đường hành lang mà tỉnh đã mở hồi cuối 1951 đầu 1952 nối thông Khánh Hòa - Phú Yên. Đi trên con đường yên vắng hôm nay tôi lại nhớ về anh Khuê, anh Chi, anh Tư trong ban chỉ huy mở đường, nhớ về anh Ma Cao, người Ê-đê, đã góp sức đáng kể trong nhiệm vụ tạo dựng lên con đường này. Anh người thôn Xuân Sơn chuyên nghề săn bắn con dộc (loại khỉ đen cổ trắng) và làm rẫy, nhưng anh lại là người hiểu địa thế vùng này, hiểu từng gành đá, suối sâu, dốc thẳm. Anh đã vạch cắt con đường hành lang không phải trên bản đồ mà bằng trí nhớ, thông thuộc của anh. Con đường mới tạo dựng với hai mưoi chiếc cầu bắc qua các suối sâu bằng thân những cây dầu rái rất vững chắc. Từ khi có con đường này cho đến khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, không một cán bộ nào của chúng ta bị địch giết hại như hồi còn dùng đường Dốc Mỏ. Cũng phải mất hai ngày nữa mới về tới đích cuối cùng của cuộc hành quân. Qua khỏi Dốc Chanh là chúng tôi tụt xuống thung lũng Đá Bàn. Chỉ mới hơn một năm thối mà cảnh vật đã thay đổi nhiều, nhất là sau trận mưa lũ lớn. Ở các rẫy cũ chuối chín, đu đủ chín không có ai ăn. Các căn nhà tranh, nơi các cơ quan của tỉnh ở trước, bắt đầu xiêu vẹo, lá khô roi đầy ắp các sân và lối đi, bốn bề tĩnh mịch. Ở trại sản xuất của tỉnh cảnh trí có khá hơn, vì khi ta rút đi có kế hoạch để một số người ở lại hoạt động bất hợp pháp, hàng ngày tăng gia sinh sống nhưng là để củng cố giữ vững địa bàn, tích trữ lương thực chờ đón cán bộ, bộ đội ta trở lại hoạt dộng, lấy nơi đây làm điểm tựa bung ra các nơi. Người đầu tiên chúng tôi gặp là Tư, cũng là một cơ sở nằm vùng do ta để ỉại. Tư khoảng 45 tuổi, khi thấy chúng tôi trở lại, thái độ anh ta tỏ ra không vồ vập nhưng cũng không lạnh nhạt. Thấy thế tôi đoán ngay, anh chàng này chắc có chuyện bất bình gì đây, nếu không thì trong tư tưởng Tư ắt có vấn đề đang đấu tranh.
Tư không nói, mà tự mình đi bắt lợn giết thịt chiêu đãi đoàn.
Đã gần ba tháng hành quân, lương thực dự trữ mang theo cạn dần, đã phải ăn cầm hơi và nhịn đói, người mỏi mệt, mệt cả lúc được ăn cơm no. Được bữa lợn luộc chấm muối người tỉnh hẳn, các khớp xương bỗng chặt trơn như được vô dầu, dạ dày đầy êm gây cảm giác no rõ rệt, cơ thể thêm thoải mái.
Như có cái gì ngờ ngợ ngay từ phút đầu, nên khi tan cuộc liên hoan hội ngộ, tranh thủ thu xếp xong xuôi chỗ ngủ cho anh em, tôi, Ỷ và N.T sang chỗ Tư ở để trò chuyện tâm sự và cũng là để dò tìm cái thái độ khó hiểu của cậu ta. Chuyện trò cũng không nhiều bởi Tư vẫn rụt rè, lơ đãng, chỉ ừ hữ cho qua mỗi khi nghe chúng tôi kể chuyện miền Bắc, thỉnh thoảng đảo mắt nhìn chúng tôi một cách xét nét. Còn chúng tôi, trước thái độ thờ ơ của Tư, cộng với cái mệt mỏi của cuộc hành quân đường dài bắt dầu ngấm mệt tạm cắt đứt câu chuyện, khi về giường vừa ngả lưng đã ngủ lúc nào không hay. Nhưng linh tính báo có chuyện chẳng lành sẽ xảy ra, nên giấc ngủ của tôi cứ chập chờn thế nào ấy, đến khoảng ba giờ sáng thì tôi choàng dậy, ngó quanh. Không gian rất yên tĩnh, Ý và Sách đang say giấc với tiếng ngáy đều đều thoải mái. Nhìn sang giường Tư, màn vẫn buông nhưng người không thấy, nghe ngóng bốn phía của ngôi nhà cũng chỉ có cây rừng lao xao trong gió nhẹ vào buổi ban đêm đang chuyển dần về sáng. Tôi suy nghĩ và trở dậy, sang ngay nhà anh Hữu đang ngủ để báo cáo hiện tượng bất thường này.
Tổi khẽ đập cửa, từ trong nhà có tiếng hỏi vọng ra với giọng khô đanh, cảnh giác:
- Ai?
- Dạ tôi đây, Cụ đây mà.
Từ trong nhà vọng ra, giọng mềm và thân mật:
- Tư hả? - Có tiếng xỏ dép đi ra phía cửa rồi tiếng anh Hữu thân mật hỏi tiếp - Có chuyện gì thế?
Cửa vừa mở, tôi tranh thủ báo cáo là Tư bỏ đi đâu, tìm hoài không thấy... Tôi chưa kịp nói hết, anh Hữu ra khỏi phòng ngủ, hỏi xen vào:
- Ý kiến cậu thế nào?
- Chưa thể kết luận cụ thể nhưng theo tôi thì ta phải cảnh giác là hơn - Cứ thế đứng dưới sương đêm, hai chúng tôi bàn kế hoạch đối phó, phải hành động ngay trước lúc trời sáng.
Được anh Hữu chấp nhận, tôi báo động đánh thức toàn đội dậy ngay trong đêm. Khi phổ biến với mọi người tôi chỉ nói chung là - theo tin tức cho biết địch đã đánh hơi thấy có lực lượng ta xuất hiện ở vùng Đá Bàn, vì vậy ta phải chuẩn bị rời khỏi nơi đây một cách bí mật. Trừ tôi, Ý và Sách ở lại, còn tất cả hành quân vào sâu hơn nữa, tận chân núi Mẹ Bồng Con, cách đây chừng mười cây số. Trên đường đi, đến đâu phải xóa dấu vết đến đấy, tuyệt đối không để địch phát hiện được tung tích. Anh Nguyễn Xuân Hữu cũng tạm thời đi với anh em lên đó. Chỉ chưa đầy mười phút sau, tất cả lặng lẽ lên đường không để lại một dấu vết gì chứng tỏ có đông người lạ mới qua đây. Sau khi đại bộ phận anh em đã di chuyển, tôi, Ý, Sách ở lại tiếp tục rà soát lại một lần nữa, xóa dấu vết của bữa liên hoan khi chiều: dọn sạch bếp, đổ tro, chôn các thanh củi cháy dở, phi tang cả các lá đựng thịt, ống bương đựng canh, noi cạo lông lợn, nghĩa là giữ nguyên cảnh tượng hoang vắng tiêu điều không người ở như vốn có, để một là, bịt “đầu mối” dò tìm của địch, giảm đến mức tối đa các cớ đẩy chúng phải nghi vấn, như thế sẽ không có lợi cho ta, ít nhất là lúc này; hai là, nếu Tư làm phản, đi báo địch lên vây càn, nhưng nếu không thấy dấu vết gì khả nghi, ắt chúng phải quay sang nghi ngờ chính người đã đi báo - tức là nghi ngờ Tư, thế là ta bước đầu vô hiệu hóa y.
Trời sáng dần, khu trại sản xuất vẫn yên tĩnh, chỉ có tiếng chim rừng hót líu lo, khiến cảnh vật bớt hoang vắng, chúng tôi đỡ trống trải. Đến giờ này mà không thấy Tư, thì rõ ràng là y đã làm phản, nên ba chúng tôi vừa tiếp tục đi xung quanh phát hiện để xóa dấu vết, vừa bố trí canh gác theo dõi hành động của địch. Khoảng lối mười giờ, mặt trời cao dần, Ỷ từ trên một ngọn cây cao làm nhiệm vụ cảnh giới giật giọng gọi xuống:
- Có người vô! - Giọng ý gấp gáp, phân vân - Không biết lính hay dân, đi rất đông.
- Ở phía nào tới? - Tôi hỏi vọng lên.
- Ngay kề chân núi trước mặt, họ đang đi về hướng mình.
Tôi vọt nhanh như sóc lên ngọn cây cao, nơi Ý đang ngồi quan sát, nhìn xuống: Đúng rồi! Đúng địch đang đi về phía ta, càng gần rõ cả súng. Chúng chia thành ba ngả, y hệt như Pháp ngày trước mỗi khi chúng đánh lên căn cứ. Tôi bảo Ý tiếp tục quan sát, theo dõi, rồi tụt xuống đi kiểm tra lại lần cuối xem có còn sót dấu vết gì nữa không. Tốt, không có gì đáng lo ngại cả. Cảnh giác chủ động đề phòng vẫn hơn. Nếu để đến giờ mới chuẩn bị thì chậm rồi, rất có thể phải chạm trán với địch. Mà chạm trán với chúng giờ này ta đâu có lợi. Tôi khoan khoái thở phào, kêu Ỷ xuống vì địch đã đến gần. Ba chúng tôi ung dung rút vào nơi kín, bám sát và theo dõi địch, xem chúng giở những trò gì?
Lực lượng địch khoảng hai đại đội. Đông như vậy nhưng đến đây chúng rất rụt rè hoảng hốt, bởi cái uy danh căn cứ Đá Bàn vẫn còn vang vọng đối với chúng. Chúng đóng quân ở lại một tuần nhưng không dám đi xa, chỉ quanh quẩn khu trại sản xuất. Đi tới đi lui, nhìn ra bốn phía, địch chỉ thấy cảnh vật lạnh vắng đang đi vào hoang tàn đổ nát, không có dấu hiệu gì khả nghi rằng nơi đây vừa xảy ra cảnh mổ heo liên hoan như Tư báo cáo (sau này chúng tôi được biết ngoài Tư còn có Ch. cũng làm phản, đi báo địch là tôi và anh Nguyễn Xuân Hữu đã vô trong này. Địch liền tung truyền đơn đi khắp nơi treo thưởng: Ai bắt được Bảy Hữu và Tư Cụ nộp nhà chức trách sẽ được lãnh thưởng năm mươi ngàn đồng). Lùng sục một tuần không thấy gì, địch đành âm thầm rút.
Từ miền Bắc vào đến đây phải qua gần ba tháng hành quân với bao vất vả, gian lao. Nếu không cảnh giác, nhạy bén, tháo vát và bằng tác phong cụ thể, tỉ mỉ của người chiến sĩ đặc công thì tình hình đã khác. Bước đầu, chúng tôi đã giành thắng lợi, bịt được đầu mối sinh nghi đối với địch khi chúng càn lên căn cứ Đá Bàn, đinh ninh là có cộng sản vừa đến; bước đầu ly gián, vô hiệu hóa những tên phản động, khoét mâu thuẫn trong nội bộ bọn chúng với nhau, tạo được thế chủ động chính trị ngay khi mới đặt chân lên mảnh đất quê hương.


