VƯỢT ĐÓI GIỮA CHIẾN TRƯỜNG: SÁNG KIẾN TỪ GIAN KHÓ
Theo ông Tư, trong những năm tháng kháng chiến ác liệt, đặc biệt giai đoạn 1969 - 1971, chiến trường miền Nam nói chung và huyện Châu Thành nói riêng phải đối mặt với muôn vàn khó khăn.
Địch liên tục mở các cuộc càn quét, đánh phá dữ dội nhằm xóa bỏ lực lượng cách mạng, khiến nguồn tiếp tế lương thực gần như bị cắt đứt hoàn toàn.
Một kỷ niệm mà ông Tư nhớ mãi đó là trận đói 7 ngày đêm khiến quân ta vô cùng khó khăn. Đó là vào năm 1972, sau trận đánh đồn Cống số 7, đơn vị rút về ém quân tại Phú Thạnh, trú trong một vườn chuối. Địch huy động lực lượng lớn lùng sục, khiến quân ta không thể tiếp cận nguồn tiếp tế trong dân.
“Đêm xuống, quân ta bí mật tiếp cận các nhà dân để tìm nguồn tiếp tế lương thực. Tuy nhiên, khi vừa đến nơi thì phát hiện địch đã bao vây, buộc phải nhanh chóng rút lui để bảo toàn lực lượng.
Trở về nơi ẩn náu, trong hoàn cảnh thiếu thốn, thấy chuối mọc nhiều do người dân sơ tán bỏ lại, anh em tận dụng hái chuối nấu ăn cầm hơi.
Thế nhưng ăn mãi cũng ngán, một đồng chí đã nảy ra sáng kiến dùng dũa mài muỗng thành răng răng để nạo chuối xiêm già, nấu chung với cá thành món canh đổi vị.
Nhờ cách đó, đơn vị cầm cự qua những ngày đói khát, duy trì sức chiến đấu suốt 7 ngày trong điều kiện dã chiến. Đến khi địch giãn bớt lực lượng, quân ta mới có điều kiện trở lại khu dân cư tìm thêm lương thực, tiếp tục hành quân.
“Đó là những ngày vô cùng gian khổ nhưng cũng đầy sáng tạo và tình đồng đội”, ông Tư nhớ lại.
AN PHÚ THUẬN - DẤU MỐC CỦA NGÀY GIẢI PHÓNG
Bước ngoặt lịch sử đến khi huyện Châu Thành quán triệt Nghị quyết của Trung ương về Chiến dịch Hồ Chí Minh vào tháng 4-1975, với tinh thần quyết liệt: “Tỉnh giải phóng tỉnh, huyện giải phóng huyện, xã giải phóng xã”.
Theo ông Tư, lực lượng địa phương quân huyện khi ấy tuy danh nghĩa là một đại đội, nhưng qua nhiều trận đánh đã bị tiêu hao nặng, thực tế chỉ còn hơn 20 đồng chí. Với lực lượng mỏng như vậy, việc giải phóng cả một huyện khiến không ít người ban đầu không khỏi lo lắng.
Tuy nhiên, hòa cùng khí thế sục sôi của cả nước, toàn đơn vị nhanh chóng vượt qua tâm lý e ngại, đồng lòng quyết tâm tiến công. Trận đánh đồn An Phú Thuận - đồn tề xã - được xem là trận cuối cùng của lực lượng địa phương, hòa nhịp cùng cả nước tiến tới thắng lợi lịch sử tháng 4-1975.
Ông Tư kể, đồn An Phú khi đó do lực lượng tề xã đóng giữ. Trước tương quan lực lượng chênh lệch, ta tiếp tục lựa chọn cách đánh mưu lược. Khoảng 20 giờ đêm 29-4, đơn vị bí mật đào công sự bao vây quanh đồn địch.
Đến 3 giờ sáng ngày 30-4, ta bất ngờ nổ súng, sử dụng B40 đánh vào lô cốt trung tâm, đồng thời bố trí khẩu đội 12,8 ly phục kích, gây cho địch nhiều tổn thất.
Đến 11 giờ trưa ngày 30-4, khi nghe tin Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, ông Tư trực tiếp ra thuyết phục địch buông súng, trở về với Nhân dân.
Tuy nhiên, lực lượng trong đồn vẫn cố thủ, chờ lệnh từ cấp trên. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, địch tháo chạy qua sông ra đồng. Lực lượng ta kịp thời nổ súng chặn đánh, khiến chúng rối loạn đội hình, tiếp tục bị tiêu hao.
“Như vậy là coi như giải phóng - ta đã đánh được đồn An Phú Thuận, làm suy yếu đáng kể lực lượng địch, và cuối cùng, trước tình hình chung, chúng buộc phải tháo chạy”, ông Tư hồi tưởng.
Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng ký ức về những năm tháng chiến tranh vẫn vẹn nguyên trong trái tim người lính già. Đó là những mất mát, hy sinh không thể nào quên, nhưng cũng là niềm tự hào sâu sắc về một thời tuổi trẻ sục sôi, đoàn kết và kiên cường.
Mỗi khi nhắc lại câu chuyện năm xưa, giọng ông Tư lại trở nên hào sảng, ánh mắt bừng lên ngọn lửa ký ức…



