Vượt sông bằng sức mạnh
Trở lại với diễn biến chiến trường K những ngày đầu năm 1979: Sau khi tuyến phòng thủ Mặt trận đường 7 của quân Polpot ở phía Đông thị xã Kampong Chàm bị phá vỡ, tàn quân Khmer Đỏ buộc phải rút lui.
Lũ đầu sỏ của tập đoàn Polpot biết rằng nếu để Quân đoàn 3 và các lực lượng khác của Quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục phát triển tiến công, không sớm thì muộn con đường số 6 - con đường rút chạy của chúng về hướng biên giới Thái Lan - sẽ bị cắt đứt.
Vì vậy, để giữ lại con đường tháo lui, Polpot đã chỉ thị cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Khmer Đỏ là Son Sen tập trung lực lượng về hướng thị xã Kampong Chàm, gấp rút lập phòng tuyến để chặn đứng cuộc tiến công của ta ở đây.
Ngay trong ngày 04/01/1979, Son Sen và Bộ Tổng Tham mưu của hắn đã đưa 2.000 quân cùng nhiều vũ khí, súng đạn đến bờ tây sông Mekong, ở thị xã Kampong Chàm để lập tuyến phòng thủ mới.
Lực lượng địch phòng ngự khu vực thị xã Kampong Chàm lúc này có Sư đoàn 520, thêm 2.000 quân tăng cường, và tàn quân địch ở các nơi khác chạy về. Quân Khmer Đỏ còn bắt thêm 700 người dân, trang bị vũ khí để gia tăng quân số.
Thị xã Kampong Chàm lúc này trở thành một cứ điểm quân sự lớn của địch. Để ngăn chặn cuộc tiến công vượt sông của ta, quân Khmer Đỏ đã tung ra một lực lượng, liên tục theo dõi giám sát mặt sông.
Phòng tuyến của địch được xây dựng khá vững chắc, kéo dài tới 20km dọc theo suốt bờ sông phía tây thị xã Kampong Chàm, với hơn 500 ụ súng, công sự, hỏa điểm.
Các hỏa điểm được bố trí các loại vũ khí tương đối mạnh như súng ĐKZ, súng cối 60mm, súng máy 12,7mm, súng đại liên, B40, B41, M79 …
Phía sau các ụ súng, công sự, và hỏa điểm, là tuyến hào dài chạy dọc theo bờ sông. Dưới mép sông chúng gài mìn và lựu đạn.
Phía sau phòng tuyến, tại các ngã ba, ngã tư, địch có cả xe tăng và xe bọc thép chốt chặn.
Với lực lượng đông, hỏa lực mạnh, có công sự vững chắc, lại được ngăn cách bởi một con sông rộng tới hơn 1km, Son Sen và các cấp chỉ huy quân Khmer Đỏ tin tưởng rằng chúng sẽ chặn đứng được cuộc tiến công của ta.
Với lực lượng địch phòng thủ đông như vậy, lại phải vượt sông, bên tấn công phải sử dụng binh lực tối thiểu là 3 sư đoàn.
Nhưng trên thế thắng như chẻ tre của Quân tình nguyện Việt Nam trên Chiến trường K, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 đã giao cho Sư đoàn bộ binh 320 (được tăng cường binh khí kĩ thuật) thực hiện vượt sông bằng sức mạnh.
Trong lúc này, trên các hướng tấn công khác của toàn mặt trận, Quân tình nguyện Việt Nam cũng thu được nhiều kết quả: Các mũi tiến công của Quân đoàn 4 và Quân khu 7 đã phá vỡ các phòng tuyến của địch. Những mũi tên đỏ trên bản đồ chỉ huy đều đang nhích dần về hướng Phnom Penh.
Nhưng nếu như Quân đoàn 3 không thể thọc về sào huyệt của chế độ Polpot, khép chặt vòng vây, thì sẽ chừa ra một hướng rút chạy cho tập đoàn Polpot. Trách nhiệm này đè nặng lên vai Sư đoàn 320.
Vì vậy, trận vượt sông đánh chiếm thị xã Kampong Chàm có ý nghĩa chiến lược, quyết định toàn bộ hướng phát triển của mặt trận: Nếu Sư đoàn bộ binh 320 không thành công thì toàn bộ đội hình của Quân đoàn 3 không có cách nào tiến về giải phóng Phnom Penh.
Hiểu rõ tầm quan trọng của trận đánh, Quân đoàn 3 đã tập trung một khối lượng hỏa lực và phương tiện kĩ thuật tăng cường cho Sư đoàn 320 hoàn thành nhiệm vụ:
Ngoài hỏa lực có trong biên chế, Sư đoàn được Quân đoàn tăng cường 6 khẩu pháo 155mm, 4 khẩu pháo 105mm, 4 khẩu pháo cao xạ 57mm, 4 khẩu pháo cao xạ 37mm, 4 xe tăng T-54, 6 xe tăng lội nước PT-76.
Bảo đảm vượt sông cho Sư đoàn 320 là Lữ đoàn công binh 249 - đơn vị dự bị chiến lược của Bộ Quốc phòng. Đích thân đồng chí Lê Minh - Tham mưu trưởng Quân đoàn trực tiếp cùng ban chỉ huy Sư đoàn 320 chỉ huy trận đánh.
Quân tình nguyện Việt Nam trên chiến trường K - Ảnh minh họaVề phía Sư đoàn bộ binh 320, ngay sau khi thực hiện xong giai đoạn 1 của chiến dịch A88, đồng chí Sư đoàn trưởng Khuất Duy Tiến đã giao Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 48 đánh chiếm ngay bến phà phía Đông Kampong Chàm để tạo thế, chuẩn bị vượt sông.
Suốt từ ngày 01 đến ngày 04/01/1979, địch liên tiếp dùng pháo binh bắn phá, và xua quân tấn công nhằm tiêu diệt Tiểu đoàn 1, chiếm lại bến phà, "xóa bàn đạp" của quân ta.
Trong tình thế bị áp đảo về quân số, hỏa lực địch cày nát các công sự, hầm hố, nhưng các chiến sĩ của Tiểu đoàn 1 vẫn kiên cường chiến đấu, đánh lui tất cả các đợt phản kích của địch , giữ vững được trận địa.
Trưa ngày 4/1/1979, Tư lệnh Quân đoàn 3 Kim Tuấn chính thức giao nhiệm vụ cho Sư đoàn 320: Nhanh chóng tổ chức vượt sông Mekong, giải phóng thị xã Kampong Chàm, mở đường cho lực lượng Sư đoàn 10 tiến về giải phóng thủ đô Phnom Penh.
Ban đầu, thời gian tấn công Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 giao cho Sư đoàn 320 là "ngay trong đêm ngày 04 rạng ngày 05/01/1979, Sư đoàn phải tổ chức vượt sông".
Tuy nhiên, để chuẩn bị cho một trận đánh cấp sư đoàn trên một địa hình khó khăn, phải vượt con sông rộng đến hơn 1km, có quân địch phòng ngự khá mạnh, thì thời gian chuẩn bị chỉ có một đêm là quá ngắn.
Vì vậy, đến 20 giờ đêm ngày 04/01/1979, thời gian vượt sông tấn công được thay đổi, chuyển sang đêm ngày 05 rạng ngày 06/01/1979.
Thời gian lúc này chính là lực lượng. Tận dụng từng phút, từng giây, suốt chiều ngày 04 và cả ngày 05/01/1979, toàn Sư đoàn khẩn trương bắt tay vào làm công tác chuẩn bị.
Ngay trong đêm ngày 04/01, lợi dụng ánh sáng đèn dù của địch, các đồng chí Tham mưu trưởng Quân đoàn Lê Minh, Sư đoàn trưởng Khuất Duy Tiến, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64 Vũ Cối, cùng cán bộ tác chiến, công binh, trinh sát của Sư đoàn, của Trung đoàn 64, và Lữ đoàn công binh 249 đã ra tận bờ sông Mekong khảo sát, nghiên cứu địa hình, tình hình địch.
Sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng, Sư đoàn 320 quyết định sử dụng hai phương án vượt sông:
Phương án thứ nhất: Dùng một lực lượng bí mật vượt sông đánh chiếm bàn đạp, sau khi lực lượng này chiếm được bàn đạp thì nhanh chóng đưa lực lượng tiếp theo vượt sông.
Phương án thứ hai: Nếu phương án thứ nhất không thực hiện được thì tổ chức vượt sông bằng sức mạnh.
Lực lượng chủ yếu vượt sông sẽ là Trung đoàn bộ binh 64, chia làm hai tuyến vượt:
Tuyến vượt chủ yếu do Tiểu đoàn 7 đảm nhiệm, tại bến phà chính ở thị xã Kampong Chàm.
Tuyến vượt thứ hai do Tiểu đoàn 9 đảm nhiệm ở khu vực thượng lưu, cách bến vượt của Tiểu đoàn 7 chừng 2km. Tuyến vượt này nhằm phân tán lực lượng địch, hỗ trợ cho tuyến vượt chính của Tiểu đoàn 7.
Đồng chí Tham mưu phó Trung đoàn 64 Khuất Duy Hoan đi trực tiếp chỉ đạo mũi tấn công vượt sông. Có thể nói, đây là một trận đánh cảm tử để mở đường cho đồng đội tiến lên của Sư đoàn 320.
Trong đêm ngày 05/01/1979, bất chấp hỏa lực của địch ở bên kia sông bắn sang liên tục, các đơn vị của ta vẫn bí mật tiến ra bờ sông triển khai đội hình tấn công.
Công binh đưa các xuồng máy xuống mép sông. Xe tăng, các loại pháo mặt đất 105mm, pháo cao xạ 57mm, 37mm cũng được đưa ra tận bờ sông, lập trận địa, sẵn sàng nhả đạn.
4h30 ngày 06/01/1979, dù trời còn tối, nhưng lợi dụng ánh đèn pháo sáng của địch, đồng chí Khuất Duy Hoan tổ chức thực hiện phương án vượt sông bí mật.
4 chiếc xuồng máy của Đại đội 9, Tiểu đoàn 9, mỗi chiếc chở theo một trung đội bộ binh, cùng bộ phận hỏa lực của tiểu đoàn nổ máy rất nhẹ để âm thầm qua sông.
Tuy nhiên ra gần đến giữa sông thì quân ta bị địch phát hiện, chúng dùng hỏa lực bắn rất dữ dội vào đội hình. Chiếc xuồng máy đi đầu trúng đạn, gần chục chiến sĩ thương vong.
Bộ đội ta không hề hoảng loạn, vừa đánh trả địch, vừa cấp cứu thương binh, vừa cởi áo, quần bịt lỗ thủng, ngăn nước không cho chảy vào.
Nhận thấy yếu tố bí mật không còn nữa, Sư đoàn trưởng Khuất Duy Tiến quyết định cho các xuồng máy của Đại đội 9 quay về bờ, đồng thời báo cáo Quân đoàn đề nghị chuyển sang phương án hai: Vượt sông bằng sức mạnh!
Đồng chí Phó Tư lệnh Quân đoàn Nguyễn Quốc Thước (được giao theo dõi, chỉ đạo trận đánh) nhất trí cao với đề xuất của Sư đoàn 320.



