VƯỢT SÔNG THẠCH HÃN GIỮA HAI LÀN PHÁO ĐỊCH (3)
VƯỢT SÔNG THẠCH HÃN GIỮA HAI LÀN PHÁO ĐỊCH
***
Ngày 2-9-1972, Ban chỉ huy Tiểu đoàn 5 nhận được điện của trung đoàn thông báo cấp trên sẽ bổ sung cho đơn vị 52 tân binh. Thời gian giao nhận là 22 giờ ngày 3-9 tại thôn Nhan Biều (Triệu Phong, Quảng Trị). Đây là tin rất vui cho Tiểu đoàn 5 chúng tôi, vì khi thực hiện nhiệm vụ phối thuộc với Trung đoàn 48 (Sư đoàn 320B) chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị từ đêm 13-8 đến thời điểm này, quân số của đơn vị còn lại chưa đến một nửa, trong khi phạm vi chiến đấu rộng hàng ki-lô-mét vuông.
Ban chỉ huy Tiểu đoàn 5 lúc đó gồm các đồng chí: Trần Văn Măng-Tiểu đoàn trưởng, Quách Văn Viên-Chính trị viên, Trần Văn Diện-Tiểu đoàn phó và Nguyễn Đức Sơn-Chính trị viên phó. Việc nhận và đưa tân binh về đơn vị buộc phải vượt qua sông Thạch Hãn vì không còn đường nào khác. Mà sông Thạch Hãn, đoạn chảy qua thị xã và Thành cổ Quảng Trị là nơi địch đánh phá ác liệt cả ngày và đêm, bằng cả không quân và pháo binh. Nhiệm vụ khó khăn này được giao cho tôi, giữ chức Chính trị viên phó đảm nhiệm.
Tối 3-9-1972, sau khi thống nhất nhiệm vụ chung và phân công trách nhiệm của từng người, bộ phận đi đón tân binh vượt sông Thạch Hãn, đến thôn Nhan Biều. Sau khi quan sát, nắm chắc tình hình, hệ thống hầm hào và đường cơ động ở thôn Nhan Biều, kế hoạch qua sông được thống nhất là: Phân bổ tân binh về các đại đội theo đội hình hành quân chứ không theo danh sách, thứ tự từ Đại đội 5, Đại đội 6, Đại đội 7, Đại đội 8, cuối cùng là Tiểu đoàn bộ.
Căn cứ số lượng tân binh của từng đại đội sẽ chọn và chuẩn bị đủ số lượng hầm trú ẩn, để khi bộ đội về đến nơi là vào được ngay, bảo đảm an toàn ở mức cao nhất. Từ địa điểm vượt sông đã được chọn, cả đoàn sẽ đi theo 5 hàng dọc nhưng các đại đội lại đi theo hàng ngang. Khoảng cách giữa người này với người kia, đại đội này đến đại đội kia đều là 5m...
Tham gia Chiến dịch lần này, gồm toàn bộ lực lượng của Quân đoàn như Sư đoàn 320, Sư đoàn 10, Lữ đoàn 234, 273 , 40 , 7 , Trung đoàn 29 thông tin và các đơn vị đảm bảo. Trong đó có 54 khẩu pháo lớn từ 85 ly đến 155 ly, 39 xe tăng, xe thiết giáp .
Sáng ngày 22 tháng 12, chiến dịch bắt đầu nổ súng. Sư đoàn 320 đã sử dụng hai Trung đoàn 64 và 52 cùng xe tăng tấn công đánh chiếm bản Không tên, Cầu Suối rồi phát triển tấn công đánh chiếm Tà Hiên. Ở cánh phải, Sư đoàn 10 sử dụng Trung đoàn 28 cùng xe tăng tấn công bản Phum Sâm, sau khi chiếm được Phum Sâm, Trung đoàn phát triển tấn công theo trục đường 7 về phía Tây, chiếm Âm Púc , Krec1 , khu ngã ba đường 7. Bên hướng của Trung đoàn 24, sau khi được lệnh tấn công, bộ binh và xe tăng của Trung đoàn đã đánh thằng theo trục đường 78, chiếm điểm cao 28, Phum Thơ Mây, Pring.
Sau một ngày chiến đấu, các đơn vị trong Quân đoàn đều giành được thắng lợi, tiêu diệt nhiều sinh lực địch, đập tan tuyến bàn đạp của Sư đoàn 4 và vùng 20, làm chủ một khu vực rộng tới 300km vuông chạy dài suốt từ Phum Sâm tới Tà Hiên và từ bắc đường 7 tới Lò Gò, Trảng Diệc. Sau khi bị Quân đoàn 3 giáng một đòn choáng váng, địch điều một lực lượng lớn quân của các Sư đoàn (117, 4 , 5 ) cùng lực lượng vùng 20 tổ chức phản kích tấn công vào các trận địa chốt của ta nhưng tất cả các cuộc tấn công của địch đều bị quân ta đẩy lui.
Ngày 29/12/ 1977, Quân đoàn quyết định chuyển sang giai đoạn 3 của Chiến dịch: tổ chức tấn công đánh chiếm các mục tiêu ở phía Bắc và phía Tây, Tây Nam. Với thế áp đảo, ngày 30/12 , Trung đoàn 66 của Sư đoàn 10 cùng xe tăng đánh chiếm được một loạt các mục tiêu M9 , Đầm Be , M4 , M5 , M7 . Trung đoàn 24 cùng xe tăng cũng đánh chiếm được các làng xung quanh Ennimít , Chông Chênh rồi phát triển xuống chiếm Konk Srốt . Ngày 31/12 , Trung đoàn 64 của Sư đoàn 320 đã phát triển tấn công , đập tan tuyến phòng ngự của địch ở Pô Léa , đánh chiếm ChRum , thành Ăng Ko Tây . Ở hướng Sư đoàn 10 , Trung đoàn 28 có xe tăng đi cùng đã tấn công đánh chiếm Phrết Theai và Khna rồi tiến về Ăng Ko Tây cùng Trung đoàn 64 . Đêm ngày 3 và ngày 4/1/1978, các đơn vị toàn Quân đoàn đã được lệnh rút về bên này biên giới của ta . Chiến dịch Đ7 đến đây đã kết thúc .
Phối hợp với hướng tấn công chính của địch vào Bến Cầu, Bến Sỏi, chúng đưa Trung đoàn 58 thuộc Sư đoàn 5 tấn công vào tuyến phòng ngự của Quân đoàn 3, từ Sa Mát tới Bàu Lung Tung. Ngày 4 tháng 12 năm 1977, sau khi dùng pháo binh bắn phá sân bay Thiện Ngôn, Trung đoàn 58 của địch bắt đầu nổ súng tấn công vào các vị trí chốt của Quân đoàn 3 ở khu vực thuộc Tiểu đoàn pháo cao xạ số 12 của Trung đoàn 4 pháo binh- Sư đoàn 10, khu Đập Đá, Bàu Lung Tung, nhưng đã bị các lực lượng của Trung đoàn 28 và 64 vây đánh. Sau 6 giờ chiến đấu, Trung đoàn 28 và Trung đoàn 64 đã đánh thiệt hại nặng Trung đoàn 58 của địch; loại khỏi vòng chiến đấu 210 tên, bắt 7 tên, thu 64 súng các loại. Đây là trận đánh đạt hiệu quả chiến đấu cao nhất của Quân đoàn từ khi bước vào cuộc chiến ở biên giới Tây Nam.
Với quyết tâm chiếm bằng được thị xã Tây Ninh và một số địa phương của ta , địch tiếp tục dồn một lực lượng lớn quân ra hướng biên giới phía Bắc Tây Ninh, trên hướng của Quân đoàn 3 đảm nhiệm, lực lượng của địch lúc này gồm có 3 Sư đoàn: 4, 5, 117, ngoài ra còn có lực lượng của vùng 20 và một bộ phận của Quân khu 203.
Trước tình hình trên, đầu tháng 12 năm 1977, Bộ Quốc phòng đã có quyết định số 42/QĐ/TM) điều động toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn ở địa bàn Quân khu 5 lên phía bắc tỉnh Tây Ninh làm nhiệm vụ chiến đấu. Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, ngày 8 tháng 12 năm 1977, Sở chỉ huy Quân đoàn từ Nha Trang đã cơ động lên Tây Ninh, đóng cách sân bay Thiện Ngôn 5 km về phía Nam. Cũng trong thời gian này các đơn vị còn lại của Quân đoàn như Sư đoàn 320 , Trung đoàn bộ binh 24, Lữ đoàn xe tăng 273, Lữ đoàn pháo binh 40, Lữ đoàn pháo cao xạ 234, Lữ đoàn công binh 7, Trung đoàn thông tin 29 đã lần lượt được ô tô của Bộ và của Quân đoàn cơ động lên Tây Ninh.
Nhằm tiêu diệt một lực lượng lớn sinh lực địch cùng vũ khí, phá tan âm mưu chuẩn bị đánh chiếm tỉnh Tây Ninh của địch, Quân đoàn quyết định mở chiến dịch Đ7. Mục tiêu của Chiến dịch lần này: đánh sâu sang bên kia biên giới CPC từ 35 đến 40 km thuộc khu vực đường 7 suốt từ bản không tên tới Tà Hiêu, Âm Púc, Krếc 1 , Krecs 2 , ngã ba phum Thơ Mây, Chông Chênh .



