VƯỢT TRƯỜNG SƠN
Chiều ngày 27/11/1971, chúng tôi lên tàu tại ga Sen Hồ, nửa đêm tàu tới ga Hàng Cỏ, dừng lại ít phút nhưng không được xuống. Không khí chiến tranh bao trùm khắp nhà ga. Từng đoàn tàu quân sự chở tăng, pháo phủ bạt kín mít nằm dọc đường ray và đều quay đầu về phía Nam. Ít phút sau tàu chuyển bánh lao phầm phập trong đêm, lính tráng ngủ mê mệt bên những chiếc ba lô mới tinh, căng phồng. Gần sáng tới Thanh Hóa, quan sát hai bên đường thấy nhà cửa đổ nát, thưa vắng và ngổn ngang xác các toa tàu cháy đen, quoằn quại. Tới Vinh thì tàu dừng hẳn, vì đâylà ga cuối cùng của thời đó. Cả Thành phố Vinh tan hoang không còn một mái nhà nguyên vẹn. Chúng tôi được nghỉ hai ngày tại Hưng Nguyên, Nghệ An, sau đó ra Bến Thủy lên sà lan, đi suốt đêm dọc bờ biển, dưới ánh đèn dù và tiếng ì ầm của máy bay địch. Sáng hôm sau vào tới cửa sông Gianh, lên bờ nghỉ trọ nhà dân ở xã Cự Nẫm, huyện Bố Trạch, Quảng Bình. Buổi chiều bắt đầu leo dốc vượt Trường Sơn.
Chặng hành quân đầu tiên của Trường Sơn vạn dặm là một thử thách không nhỏ đối với những người lính trẻ. Gió mùa đông bắc liên tục tràn về mang theo những trận mưa phùn dầm dề, làm nhão nhoét những cung đường đất đỏ vốn dày đặc dấu chân của hàng vạn người lính đã đi qua theo năm tháng. Vì thế mỗi bước chân là một thử thách, cứ nhấc được chân phải lên là chân trái lại lún sâu dưới bùn. Nhiều anh rút được chân lên thì quai dép đã tuột sạch, cười ra nước mắt.
Bãi khách đầu tiên của Trường Sơn có mật danh T5, nằm dưới một khu rừng kín đáo phía trên nhưng mật đất rất quang quẻ. Điều đặc biệt là gốc cây nào cũng nhẵn bóng dấu mắc võng của bao người đã từng nghỉ lại nơi đây. Đó đây trên thân cây rừng còn khắc ghi tên tuổi, quê quán của những người lính trẻ như nhắn gửi lại cho người đi sau biết mà nhận đồng hương. Đêm hôm đó, trên cánh võng mềm, tôi chùm chăn thật kín, bật đèn pin quả nhót, viết vội 2 lá thư, một cho gia đình, lá kia cho cô bạn hàng xóm tôi yêu, để sáng sau nhờ cán bộ khung huấn luyện đưa quân vào tới đây, quay ra Bắc, chuyển hộ tới gia đình .
Đường Trường Sơn dành cho người đi bộ phần lớn vắt vẻo trên những sườn núi cao, băng qua các đỉnh núi mây mù giăng phủ nên rất nhiều đèo dốc, cứ mở mắt là thấy dốc. Nhiều đoạn xuyên qua rừng già nguyên sinh, âm u mà hùng vĩ. Thỉnh thoảng nó lại nhập vào đường xe cơ giới rồi lại tách ra như những tĩnh mạch được nối với động mạch chủ, của một cơ thể trẻ trung căng đầy nhựa sống. Con đường kỳ diệu ấy như vừa lẩn tránh, vừa thách thức quân thù suốt mười mấy năm qua.
Dọc đường, chúng tôi được chứng kiến hàng vạn TNXP, chủ yếu là nữ, đội mưa bom bão đạn để mở đường và san lấp hố bom thông đường cho xe ra tiền tuyến. Gặp các cô dân công gùi nặng leo dốc, có anh còn ác khẩu trêu chọc “ các em gùi nặng thế thì mất lứa đẻ đấy”. Mỗi khi gặp từng tốp lính cũ được cử ra Bắc đào tạo, chúng tôi thường hỏi chiến trường còn bao xa thì đều nhận được câu trả lời giống nhau là “xắp tới rồi, các cậu vào nhanh đi kẻo chỉ còn nhặt ống bơ rỉ”. Trên con đường ra trận vạn dặm đó, chúng tôi còn gặp những bản nhỏ của đồng bào dân tộc Cơ Tu, Vân Kiều, Lào Thưng…vắt vẻo lưng chừng suốt dãy Trường Sơn.Nhưng chính họ, không chỉ cung cấp cho chúng tôi một nguồn thực phẩm quan trọng thông qua đổi trác rất tự nguyện, mà còn làm cho Trường Sơn thêm sức sống và sinh động khác thường.
Là huyết mạch quan trọng bậc nhất chi viện người và của cho chiến trường Miền Nam, Trường Sơn đã trở thành nơi đánh phá ác liệt của kẻ thù. Trên đường hành quân, chúng tôi phải băng qua không biết bao nhiêu trọng điểmác liệt, biết bao cán bộ, chiến sĩ của ta đã phải hy sinh giữa chừng. Tôi có thằng bạn cùng lớp 10B là Đoàn Hồng Hải, con nguyên Chủ tịch tỉnh Cao Bằng, nhập ngũ sau tôi ba tháng, nghe nói trúng bom B52 hy sinh trên con đường này. Trường Sơn thực sự là nơi thử trí trai, không như đèo Khế, đèo “cứt trâu” trên rừng thiêng Yên Thế mà chúng tôi đã từng thử sức. Bởi thế có người không chịu nổi gian khổ, ác liệt đã tự bắn vào chân, tay mình để không phải vào Nam chiến đấu. Có anh đào ngũ chui lủi một mình trong rừng sâu để tìm đường ra Bắc. Tuy vậy, đa số lính trẻ chúng tôi thì cho rằng, thà vào tới chiến trường đánh một trận hy sinh còn hơn phải quay ngược lại con đường đầy chông gai, gian khổ và mang về quê hương nỗi nhục của kẻ “B quay”.
Càng về cuối chặng hành quân, số người bị sốt rét càng tăng. Một anh sốt là phải hai anh cáng, vài ba anh khác phải mang vác ba lô, súng đạn cho đồng đội. Vậy mà riêng tôi tôimay mắn vẫn bình an suốt chặng đường. Vẫn là liên lạc của đại đội, tôithường xuyên phải đi lại xuôi, ngược suốt đội hình để chuyển thông tin. Ấy thế mà tối nào tôi cũng viết nhật ký ghi lại những gì diễn ra và suy nghĩ của mình dọc con đường huyền thoại ấy. Một trong những nguyên nhân khiến tôi “đề kháng” được với ốm đau bệnh tật là nhờ kinh nghiệm của anh Điển, người cùng quê, từ chiến trường phục viên ra trang bị cho. Theo đó, tôi mua khá nhiều Polyvitamin và chia đều ngày uống 10 viên dọc đường hành quân. Trước khi đi, tôi còn sang Trung Quốc mua hàng chục lọ nước hoa để đổi cho bà con dân tộc dọc Trường Sơn, lấy gạo nếp, bí đỏ…cải thiện.
Rồi chúng tôi lần lượt vượt qua các địa danh nổi tiếng ác liệt của Trường Sơn như đường 20 Quyết thắng, đèo Phu La Nhích, cua chữ A, dốc Cổng trời, dốc Nguyễn Chí Thanh, dốc bà Định, Đường 9, sông Bạc, sông Sê Băng Hiêng, Sê Ca Mán, A Tô Pơ… và cuối cùng là Ngã ba Đông Dương.

Trường Sơn đông nắng tây mưa
Ai chưa đến đó thì chưa biết mình (ảnh sưu tầm)
4. VỀ C17
Áp tết âm lịch năm 1972, sau 3 tháng vượt Trường Sơn đầy gian khổ, hiểm nguy, chúng tôi đã tới điểm dừng chân cuối cùng là Binh trạm T3, ngay khu vực ngã ba Đông Dương. Sau một ngày nghỉ ngơi chờ đợi, chín đứa chúng tôi là Nguyễn Văn Hiệp, Hoàng Văn Thuật, Bùi Nguyên Văn, Nông Văn Bối, Nông Văn Bách, Đàm Văn Lộc, Hoàng Văn Thông, Đàm Côn và Nguyễn Việt Phát được chọn bổ sung về đại đội trinh sát C17, Trung đoàn 40 pháo binh, trực thuộc Bộ Tư lệnh B3,Tây Nguyên. Phần lớn số còn lại của C3 và cả Tiểu đoàn 33 huấn luyện, được bổ sung về các tiểu đoàn pháo binh mặt đất và pháo phòng khôngcủa E40.
Trên đường về đơn vị mới, chúng tôi băng qua một nương sắn, mọi người mừng rỡ nhổ sắn bóc ăn ngấu nghiến, vì 3 tháng hành quân hầu như đã vắt kiệt sức lực của chúng tôi. Anh Thiều Đình Bảy quê Thanh Hóa, người đại diện đơn vị mới ra nhận quân, nhắc chúng tôi kỷ luật hành quân và khuyên không nên ăn quá nhiều sắn sống dễ bị say.
Hậu cứ đầu tiên của C17 nằm trên địa bàn bản Tà Cơi, thuộc huyện 40, tỉnh Kon Tum, gần Binh trạm T3. Doanh trại của đơn vị là những căn nhà nửa chìm nửa nổi, lợp mái lồ ô, đắp ụ đất xung quanh, nằm dưới tán rừng già kín đáo, chim, sóc, kỳ lân, gà rừng nhảy nhót, gáy hót suốt ngày. Thú rừng nơi đây nhiều đến nỗi lợn rừng vào giao phối với lợn nhà đẻ ra những chú heo con với những vệt dọc dưa trông thật ngộ nghĩnh. Trước mặt đơn vị làcon suối nhỏ len lỏi chảy qua cánh rừng lồ ô rậm rì, bên kia suối là vườn rau tăng gia đủ loại nhưng nhiều nhất là rau dền, rau muống và củ cải. Sau lưng đơn vị không xa là gần một trăm ha rẫy lúa, ngô, sắn và đậu mắt cua, mảnh nhỏ nhất cũng vài ba ha, là nguồn cung cấp chủ yếu lương thực cho đơn vị trong rất năm đánh Mỹ. Sau năm 1969, chính trường Căm Pu Chia biến động, bọn Lon lon, Xi Rích, Ma Tắc làm đảo chính khiến ta gặp khó khăn tiếp tế, trên chủ trương cho bộ đội ra Quảng Bình an dưỡng, nhưng Bộ Tư lệnh B3 xin được ở lại, vừa tăng gia vừa đánh giặc, từ đó mới xuất hiện các nương lúa, nương săn bạt ngàn giữa vùng hậu cứ.
Đại đội trinh sát C17 được thành lập ngày 5 tháng 2 năm 1967, cùng thời điểm thành lập E40 pháo binh, trung đoàn pháo binh đầu tiên của Tây Nguyên(nằm trên địa bàn huyện 40, Kon Tum). Trung đoàn trưởng đầu tiên là đồng chí Nguyễn Xuân Giá, đồng chí Phạm Việt Thọ là Chính ủy. Thời kỳ đầu, Trung đoàn có 4 tiểu đoàn: 30,31,32,34 với trang bị chủ yếu là pháo ĐKB, ĐKZ, cối 120, 82 và cao xạ 12,7 ly.
Ngay sau khi thành lập, các tiểu đoàn 30,31,32 đã chi viện bộ binh tiến công lữ dù 2 của Mỹ tại Sùng Lễ, Sùng Thiện đến Đức Cơ, Gia Lai. Sau đó Trung đoàn tiếp nhận thêm tiểu đoàn pháo 33 ĐKB và liên tục tập kích địch từ Đắc Tô, Tân Cảnh đến Play Cu. Tháng 4 năm 1968, trung đoàn 40 được tăng cường tới 10 tiểu đoàn, trong đó có 4 tiểu đoàn ĐKB, ĐKZ, Cối 120, 82 ly; 2 tiểu đoàn pháo 105,85 ly; 2 tiểu đoàn cao xạ 37 ly. 1 tiểu đoàn 12,7 ly và 1 tiểu đoàn xe tăng PT76.
Tháng 8 năm 1968, đồng chí Tô Thuận được giao làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn pháo 40. Trung đoàn chia làm hai cánh, cánh Bắc chiến đấu ở Kon Tum (Gồm các Tiểu đoàn 32,33,42,46,16). Cánh Nam gồm Tiểu đoàn 31,41,47 chiến đấu ở địa bàn Gia lai. Mùa khô năm 1968, Trung đoàn hỗ trợ bộ binh E28 và E66 tiến công địch ở Play Cần, Ngọc Hồi, cao điểm 824…
Năm 1969, đồng chí Nguyễn Tiến Vinh làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Bùi Tố Tọa làm Chính ủy. Thời kỳ này, Trung đoàn đánh địch ở Kleng, Chư Hinh, Ngok Tô Ba, Chư Rơ Ban, Plaay Cần…
Đầu năm 1970, Trung đoàn còn 4 tiểu đoàn (30,32,33,11) và 4 đại đội trực thuộc là Trinh sát, thông tin, công binh và quân y. Đồng chí Nguyễn Hữu Quỳnh là Trung đoàn trưởng và đồng chí Lê Đình Nguyên làm Chính ủy. Thời kỳ này Trung đoàn hỗ trợ E28 đánh Đắc Siêng, pháo kích Play Cần, Đắc Mót, Pô Cô Hạ.
Tháng 2 năm 1971, Trung đoàn hỗ trợ E66 đánh Ngọc Rinh Rua và bắn phá sân bay Đắc Tô. Bước sang năm 1972, Trung đoàn được bổ sung 1 đại đội súng cối 160 ly của Trung đoàn pháo binh 675, do đồng chí Nguyễn Hữu Vinh làm Trung đoàn trưởng và đồng chí Lại thế Cường làm Chính ủy. Lúc này Mặt trận Tây Nguyên đang chuẩn bị mở chiến dịch xuân hè 1972, phối hợp với mặt trận Quảng Trị đánh những đòn quyết định, buộc địch phải đi đến ký Hiệp định Pa Ri đầu năm 1973.



