XÃ ĐỨC LẬP-Đại tướng Lê Văn Dũng – Vị tướng Anh hùng quê hương Đồng Khởi
Đồng chí Lê Văn Dũng sinh ngày 25 tháng 12 năm 1945 tại xã Phong Mỹ, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (nay là xã Lương Hòa, tỉnh Vĩnh Long). Sinh ra trên quê hương Đồng Khởi giàu truyền thống cách mạng, đồng chí sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng. Hơn 17 tuổi, đồng chí thoát ly gia đình, gia nhập Quân giải phóng miền Nam, trở thành chiến sĩ trinh sát của Đại đội 12, Tiểu đoàn 3, Đoàn Q761 (Đoàn Bình Giã). Trong những năm đầu quân ngũ, đồng chí lần lượt đảm nhiệm các cương vị Tiểu đội trưởng trinh sát, Trung đội phó, Trung đội trưởng và Đại đội phó Đại đội 12, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9.
Ngày 23 tháng 9 năm 1965, đồng chí được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và trở thành đảng viên chính thức vào ngày 23 tháng 9 năm 1966. Đây là dấu mốc quan trọng trong quá trình rèn luyện và trưởng thành của người chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi.
Tháng 6 năm 1968, đồng chí được điều động sang làm công tác chính trị, giữ chức Chính trị viên Đại đội 6, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 1, Sư đoàn 9. Tháng 3 năm 1969, đồng chí giữ chức Chính trị viên phó, đến tháng 9 cùng năm được bổ nhiệm Chính trị viên Tiểu đoàn 2. Cuối năm 1970, đồng chí được cử đi học lớp cán bộ trung đoàn tại Trường Quân chính Trung – Cao cấp Miền (H14, nay là Trường Sĩ quan Lục quân 2). Sau khi hoàn thành khóa học, tháng 6 năm 1971 đồng chí trở về đơn vị, đảm nhiệm cương vị Phó Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 1, Sư đoàn 9 với quân hàm Đại úy.
Tháng 3 năm 1973, đồng chí được bổ nhiệm Phó Chính ủy kiêm Chủ nhiệm Chính trị Trung đoàn 1, Sư đoàn 9. Đến tháng 10 năm 1974, đồng chí giữ chức Chính ủy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9, Quân đoàn 4 (Binh đoàn Cửu Long). Trên cương vị này, đồng chí trực tiếp tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, góp phần giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đồng thời tiếp tục tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam.
Sau ngày đất nước thống nhất, đồng chí không ngừng học tập, nâng cao trình độ. Tháng 12 năm 1977, đồng chí học bổ túc văn hóa tại Trường Văn hóa Bộ Quốc phòng, sau đó tiếp tục theo học tại Học viện Quân sự Cao cấp (nay là Học viện Quốc phòng). Tháng 8 năm 1980, đồng chí trở lại đơn vị, được bổ nhiệm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 9, Quân đoàn 4, làm nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia. Tháng 6 năm 1986, đồng chí giữ chức Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9 với quân hàm Đại tá. Năm 1988, đồng chí được cử học tại Học viện Quân sự Frunze (Liên Xô).
Tháng 4 năm 1989, đồng chí được thăng quân hàm Thiếu tướng. Cùng năm, đồng chí giữ chức Phó Tư lệnh thứ nhất Quân đoàn 4 và được cử học bổ túc lý luận cao cấp tại Học viện Chính trị – Quân sự. Tháng 9 năm 1990, đồng chí được bổ nhiệm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân khu 7; tháng 10 năm 1991 giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 4; đến tháng 10 năm 1995 được bổ nhiệm Tư lệnh Quân khu 7.
Trên cương vị Tư lệnh Quân khu 7, với tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh và kinh nghiệm của người chỉ huy dày dạn trận mạc, đồng chí cùng Đảng ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu tập trung lãnh đạo xây dựng lực lượng vũ trang ngày càng vững mạnh, chủ động làm thất bại mọi âm mưu "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; xây dựng khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố vững chắc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển kinh tế trên địa bàn.
Tháng 1 năm 1998, đồng chí được điều động về Bộ Quốc phòng giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Tháng 4 cùng năm, đồng chí được thăng quân hàm Trung tướng. Cũng trong năm 1998, đồng chí được bổ nhiệm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, kiêm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương).
Năm 2001, đồng chí được giao trọng trách Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 6 năm 2003, đồng chí được Chủ tịch nước thăng quân hàm Thượng tướng; ngày 6 tháng 7 năm 2007 được thăng quân hàm Đại tướng.
Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Đại tướng Lê Văn Dũng đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác tham mưu chiến lược về công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và Nhân dân, luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Đặc biệt, đồng chí có vai trò quan trọng trong việc đề nghị khôi phục chế độ chính ủy, chính trị viên và trực tiếp tham gia quá trình xây dựng, lấy ý kiến, hoàn thiện để Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW ngày 20 tháng 7 năm 2005 về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, tạo dấu mốc quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trong Quân đội thời kỳ mới.
Trong quá trình công tác, đồng chí được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa VIII, IX và X; được bầu vào Ban Bí thư các khóa IX, X; là Đại biểu Quốc hội các khóa XI và XII. Đầu năm 2011, đồng chí nghỉ hưu theo chế độ sau gần nửa thế kỷ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng.
Sau khi nghỉ hưu, Đại tướng Lê Văn Dũng vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, công tác đền ơn đáp nghĩa và an sinh xã hội. Đồng chí vận động Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước từ thành phố Bến Tre về quê hương, góp phần cải thiện đời sống nhân dân. Đồng chí còn dành nhiều tâm huyết cho các hoạt động tìm kiếm đồng đội, hỗ trợ xây dựng nhiều căn nhà tình nghĩa cho gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng trên khắp cả nước, thể hiện đạo lý "Uống nước nhớ nguồn" sâu sắc.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Đại tướng Lê Văn Dũng luôn thể hiện phẩm chất cao đẹp của người cán bộ, đảng viên cộng sản trung kiên; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; là người lãnh đạo quân đội mẫu mực, có phương pháp chỉ huy khoa học, sâu sát thực tiễn, giữ vững nguyên tắc, gần gũi, chân thành và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Với những chiến công, thành tích và cống hiến to lớn đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, tiêu biểu như: Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Ba, hai Huân chương Chiến công hạng Nhất và hạng Ba, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng; cùng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất do Nhà nước Campuchia trao tặng và nhiều phần thưởng cao quý khác.
Đại tướng Lê Văn Dũng là một trong những vị tướng tiêu biểu trưởng thành từ thực tiễn chiến đấu và công tác, dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, cho sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là tấm gương sáng về lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, tinh thần cống hiến và đạo đức cách mạng, mãi là niềm tự hào của quê hương Đồng Khởi và của Quân đội nhân dân Việt Nam.



