XÃ ĐỨC LẬP-NGHĨ VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KÌ
XÃ ĐỨC LẬP-NGHĨ VỀ CUỘC KHỞI NGHĨA NAM KÌ
Nghĩ về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ
Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập và thống nhất Tổ quốc của nhân dânViệt Nam, có những sự kiện, dù không thành công, nhưng thời gian càng lùi xa lạicàng khẳng định tầm vóc và giá trị. Một trong những sự kiện ấy chính là cuộc khởinghĩa Nam Kỳ ngày 23 tháng 11 năm 1940..Xâm lược Việt Nam từ năm 1858, đến Hòa ước Giáp Thân 1884, thực dânPháp gần như đã hoàn tất cuộc xâm lăng và đặt ách thống trị lên đầu, lên cổ nhân dânViệt Nam. Sau sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam với nhiều phong trào đấu tranhcách mạng của quần chúng, đặc biệt tháng 9-1939, khi chiến tranh thế giới lần thứ haibùng nổ, thực dân Pháp càng điên cuồng đàn áp các phong trào yêu nước của nhândân Việt Mam. Không những vậy, trước sự xâm lăng của phát xít Nhật, thực dân Pháptìm cách thỏa hiệp và dâng nước ta cho Nhật. Tình hình này đã đặt ra cho dân tộc ViệtNam một thử thách sống còn.Từ 6 đến 8 tháng 11 năm 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng tạiBà Ðiểm (Hóc Môn - Gia Ðịnh) đã xác định: “Bước đường sinh tồn của các dân tộcÐông Dương không còn có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốcPháp, chống tất cả ách ngoại xâm vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giảiphóng độc lập”. Sau rất nhiều các bước chuẩn bị, giữa tháng 11-1940, trước tình hìnhphong trào cách mạng sục sôi, Xứ ủy Nam Kỳ đã quyết định phát động toàn Nam Kỳnổi dậy đánh đổ chính quyền thuộc địa, giành chính quyền về tay nhân dân. Lệnh khởinghĩa được ban ra và thông báo cho các địa phương đồng loạt cùng nổi dậy. Nhậnthấy tình hình chưa chín muồi, Hội nghị Trung ương Ðảng khi ấy đang họp ở BắcNinh đã quyết định đình chỉ cuộc khởi nghĩa. Đặc phái viên của Đảng là Phan ÐăngLưu tức tốc trở về Nam Kỳ truyền đạt quyết định của Trung ương cho Xứ ủy Nam Kỳ.Khi về đến nơi, lệnh tổng khởi nghĩa đã được ban hành và nhiều lãnh đạo chủ chốt đãbị địch bắt.Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nhà xuất bản Chính trịquốc gia, Hà Nội, 2008 cho biết: Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ diễn ra theo đúng kếhoạch vào đêm 22 rạng 23-11-1940. Khởi nghĩa nổ ra ở hầu khắp các tỉnh từ miềnĐông đến miền Tây Nam Bộ, ở Biên Hoà, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Bến Tre, TràVinh, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, đặc biệt quyết liệt ở Hóc Môn (BàĐiểm, Gia Định), Cai Lậy (Mỹ Tho), Vũng Liêm (Vĩnh Long). Cả vùng nông thônrung chuyển trước sức mạnh tiến công của quần chúng cách mạng. Nhiều đồn bốt,công sở, đường giao thông... của địch bị phá. Tại một số xã, quận, chính quyền địchhoang mang, tan rã, chính quyền cách mạng được thành lập tịch thu ruộng đất của địachủ và phản động chia cho dân cày nghèo, trừng trị bọn phản cách mạng... Cờ đỏ saovàng lần đầu tiên xuất hiện trong nhiều cuộc biểu tình và những nơi đã thành lậpchính quyền cách mạng. Một phong trào quần chúng nổi dậy đã làm rung chuyển cảđất Nam Kỳ kéo dài từ đêm 22 rạng ngày 23 tháng 9 năm 1945 trên 20/21 tỉnh thành.Ở nhiều nơi, chính quyền cách mạng đã được thiết lập. Ở Mỹ Tho, khoảng thời gianngắn ngủi 40 ngày dưới chính quyền cách mạng, nhiều chính sách tiến bộ đã được banhành và thực hiện. kể từ các phong trào của các nghĩa binh Nam Bộ chống Pháp, khởinghĩa Nam Kỳ là cuộc khởi nghĩa vũ trang có phạm vi rộng nhất và mức độ quyết liệtnhất cho đến lúc bấy giờ.Cũng sách Lịch sử biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam cho biết: Do kế hoạchkhởi nghĩa bị lộ thực dân Pháp kịp thời đối phó. Chúng lập tức huy động các lựclượng tiến hành một chiến dịch khủng bố trắng cực kỳ tàn khốc. Hàng chục xe chởđầy lính được tung đi săn lùng quân du kích, càn quét các vùng khởi nghĩa. Hai mươimáy bay được huy động đi ném bom các vùng có quần chúng nổi dậy như Năm Thôn,Cai Lậy, Chợ Giữa, Càng Long (Mỹ Tho). Chúng còn dùng dây thép xuyên qua bàntay hoặc bắp chân người, câu thành từng chuỗi rồi quẳng xuống biển. Trong thời giantừ ngày 23-11-1940 đến ngày 31- 12-1940, ở các tỉnh Gia Định, Mỹ Tho, Cần Thơ,Long Xuyên, thực dân Pháp bắt 5.848 người. Hàng ngàn người bị xử tử, bị đày ra CônĐảo, đi các trại tập trung Tà Lài, Bà Rá.Cuộc khởi nghĩa thất bại, hàng nghìn đồng bào đã bị thực dân Pháp giết hại;rất đông những con người kiên trung bất khuất đã bị đày ra nơi chốn lao tù địa ngụctrần gian; nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng bị bắt trước và sau đó đã nhân cơ hội nàybị thực dân Pháp khép tội và xử tử như các Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập,Bí thư Thành ủy Sài Gòn – Gia Định Nguyễn Thị Minh Khai, Bí thư Xứ ủy Nam BộVõ Văn Tần, các đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, Phan Ðăng Lưu...Chưa bao giờ tronglịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam chịu tổn thất quá lớn lao như lúc này.Cuộc khởi nghĩa Nam kỳ đã thất bại, thế nhưng có những “thất bại là mẹ thànhcông” thì đây, chính đây cuộc khởi nghĩa này là minh chứng hùng hồn nhất. Đây làcuộc khởi nghĩa thể hiện đầy đủ nhất tinh thần đoàn kết, sức mạnh dân tộc Việt Namkể từ khi thực dân Pháp xâm lược. Cuộc khởi nghĩa khẳng định niềm tin tưởng củanhân dân vào Đảng Cộng sản Đông Dương, vào thắng lợi của dân tộc. Những cán bộ,đảng viên tham gia cuộc khởi nghĩa này đã được tôi luyện và trưởng thành trongphong trào cách mạng rộng lớn của các tầng lớp nhân dân để rồi sẽ trở thành ngọn cờtập hợp sức mạnh nhân dân trong cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.Khởi nghĩa Nam Kỳ là kiểm nghiệm thực tiễn về chủ trương đúng đắn củaĐảng Cộng sản Đông Dương khi ấy là đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầuđã được thông qua tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939 vớiphương pháp đấu tranh vũ trang. Thất bại của khởi nghĩa Nam Kỳ là cơ sở thực tiễnđể Hội nghị Trung ương lần tháng 5/1941 quyết định thay đổi chiến lược, đặt nhiệmvụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết cũng như hoàn thiện con đường chuẩn bịkhởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Trong cuộc khởi nghĩa này, lá cờ đỏ sao vàngxuất hiện lần đầu tiên ở Mỹ Tho đã trở thành biểu tượng của khối đại đoàn kết toàndân. Lá cờ đỏ thấm đẫm máu đào của biết bao anh hùng, chiến sĩ, đồng chí, đồng bàođã Ðảng ta và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chọn làm biểu tượng của Mặt trận Việt Minhvà sau đó đã được Quốc hội quyết định lấy làm quốc kỳ của Việt Nam.Ghi nhận và đánh giá cao hi sinh của đồng chí, đồng bào Nam Kỳ trong cuộckhởi nghĩa này, ngày 14-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 163- SL tặngthưởng Huân chương Quân công hạng nhất cho Ðội quân khởi nghĩa Nam Bộ năm1940 vì thành tích “đã nổi lên chiến đấu oanh liệt với kẻ địch và đã biểu dương đượcý chí quật cường của dân tộc”.Tám mươi năm đã trôi qua, những con người một thưở thi gan bền chí vớiquân thù nay người còn, người mất. Cứ mỗi lần kỷ niệm ngày khởi nghĩa Nam Kỳ,những “người lính già đầu bạc” lại “kể mãi chuyện” hào hùng năm xưa.



