XÃ ĐỨC LẬP - NGỌN BÚT HÓA GƯƠM THIÊNG VÀ KHÍ TIẾT VĨNH CỬU CỦA BẬC ĐẠI KHOA NAM BỘ - NGUYỄN HỮU HUÂN
NGỌN BÚT HÓA GƯƠM THIÊNG VÀ KHÍ TIẾT VĨNH CỬU CỦA BẬC ĐẠI KHOA NAM BỘ - NGUYỄN HỮU HUÂN
NGỌN BÚT HÓA GƯƠM THIÊNG VÀ KHÍ TIẾT VĨNH CỬU CỦA BẬC ĐẠI KHOA NAM BỘ - NGUYỄN HỮU HUÂN
Khi dòng chảy lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX bị đẩy vào những khúc quanh bi tráng nhất, đất trời Nam Bộ đã chứng kiến sự trỗi dậy của một thế hệ sĩ phu đầy khí phách. Họ là những người mang trên vai gánh nặng của thời cuộc, dùng cả danh dự của tầng lớp trí thức để đối đầu với họng súng quân thù. Giữa một thế hệ kiên trung ấy, Nguyễn Hữu Huân (Thủ Khoa Huân) nổi lên như một biểu tượng đặc biệt: vị đại khoa bảng duy nhất của vùng đất Định Tường dứt khoát rũ bỏ hào quang mũ áo, dùng ngòi bút làm vũ khí và lấy chính máu xương mình để viết nên chương sử bất khuất cho dòng sông Tiền hiền hòa.
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 tại làng Tịnh Giang, huyện Kiến Hưng, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường (nay thuộc xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang). Xuất thân từ một gia đình trung nông nho học, từ thuở để chỏm, ông đã bộc lộ thiên tư độc đáo: học rộng nhớ lâu, văn phong sắc sảo và mang đậm tư tưởng trượng nghĩa của con người vùng đất mới phương Nam.
Năm 1852 (Nhâm Tý), khoa thi Hương tại trường thi Gia Định chứng kiến sự đăng khoa đầy thuyết phục của chàng trai 22 tuổi Nguyễn Hữu Huân với danh hiệu Thủ khoa. Vinh hiển ấy nhanh chóng đưa ông vào hàng ngũ quan lại của triều đình phong kiến với chức vụ Giáo thụ huyện Kiến Hưng. Trên bục giảng, ông không chỉ truyền thụ kinh sử mà còn gieo vào tâm thức môn sinh tinh thần ái quốc, ý thức tự tôn của dân tộc trước những biến động thời cuộc ngoài bờ cõi.
Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược và chiếm đóng thành Định Tường vào năm 1861, lòng căm thù giặc và nghĩa vụ của một kẻ sĩ không cho phép Nguyễn Hữu Huân đứng ngoài cuộc. Ông từ quan, xếp lại sách đèn, chính thức bước vào ngã rẽ khốc liệt nhưng vinh quang của một vị chủ tướng kháng chiến.
Suốt 15 năm hoạt động cách mạng (1859 - 1875), Thủ Khoa Huân đã trở thành linh hồn của phong trào chống Pháp vùng Mỹ Tho - Tân An. Điểm đặc sắc nhất ở ông chính là ý chí bền bỉ vô song, tinh thần "bị bắt lại trốn, trốn lại đánh" khiến kẻ thù vừa căm phẫn vừa nể sợ.
Lửa hồng Thuộc Nhiêu (1859 - 1863): Ông phối hợp với Thiên hộ Dương (Võ Duy Dương) xây dựng căn cứ vững chắc tại vùng Thuộc Nhiêu, tổ chức các trận đánh du kích xuất quỷ nhập thần, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân càn quét của quân Pháp. Khi căn cứ thất thủ, ông rút về An Giang mưu đồ khôi phục lực lượng nhưng bị tổng đốc địa phương đầu hàng bắt nộp cho giặc.
Chí thép nơi viễn xứ (1864 - 1872): Thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn dụ dỗ, hứa ban chức tước lớn nhưng ông tuyệt đối cự tuyệt. Năm 1864, chúng đày ông sang Cayenne (thuộc địa Pháp ở Nam Mỹ). Suốt 7 năm chịu cảnh khổ sai biệt xứ, ý chí độc lập trong ông vẫn vững như bàn thạch. Khi được giảm án về nước và bị quản thúc tại Sài Gòn, ông khôn khéo dùng vỏ bọc dạy học để mật thiết liên lạc với các phái sĩ phu, tích trữ vũ khí, chuẩn bị cho cuộc nổi dậy lần thứ hai.
Trận tuyến cuối cùng (1874 - 1875): Trốn thoát khỏi Sài Gòn, ông trở về Chợ Gạo phát động cuộc khởi nghĩa lần thứ ba. Phong trào lan rộng nhanh chóng, giáng những đòn mạnh mẽ vào bộ máy cai trị của giặc. Tiếc thay, do sự chênh lệch quá lớn về vũ khí và sự phản bội của kẻ nội gián, ông bị giặc bắt vào tháng 3 năm 1875 khi đang tìm cách bảo toàn lực lượng nghĩa quân.
Nhận thấy tầm ảnh hưởng sâu rộng của Thủ Khoa Huân trong lòng nhân dân Lục tỉnh, thực dân Pháp đưa ông lên tuần dương hạm neo trên sông Tiền, dùng phú quý, tiền tài để mua chuộc lần cuối. Thế nhưng, đứng trước ranh giới của sự sống và cái chết, vị thủ khoa chỉ đáp lại bằng cái nhìn khinh bỉ và những lời đanh thép khẳng định tấm lòng trung trinh với giang sơn.
Ngày 19 tháng 5 năm 1875, thực dân Pháp quyết định đưa ông về hành quyết tại quê nhà Mỹ Tịnh An, ngay bên bờ kênh Chợ Gạo nhằm uy hiếp tinh thần phản kháng của nhân dân địa phương.
Buổi trưa định mệnh ấy đã đi vào lịch sử như một biểu tượng của khí tiết sĩ phu. Trước họng súng quân thù và tiếng khóc nghẹn ngào của đồng bào, Thủ Khoa Huân vẫn ung dung, đĩnh đạc. Ông từ chối bịt mắt, thanh thản uống cạn chén rượu tiễn biệt, rồi cắn ngón tay, dùng chính dòng máu nóng của mình viết lên tà áo bài thơ tuyệt mệnh bằng chữ Nôm. Hai câu thơ cuối vang lên như một lời sấm truyền về tinh thần bất tử:
"Anh hùng tử, chí hùng bất tử,
Lưu danh thiên cổ rạng tinh thần."
Tiếng súng nổ vang, người con ưu tú của đất Định Tường ngã xuống ở tuổi 45. Thân xác ông gửi lại lòng đất mẹ, nhưng linh hồn và khí phách hiên ngang của ông đã hóa thân vào hồn thiêng sông núi.
Thủ Khoa Huân ra đi, nhưng nhân cách vĩ đại của ông đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Ông không chỉ là một nhà quân sự mưu lược, một vị chủ tướng kiên cường mà còn là một nhà thơ yêu nước xuất sắc của văn học cận đại. Những vần thơ của ông hừng hực lửa chiến đấu, là vũ khí sắc bén cổ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân.
Hơn một thế kỷ đã lùi xa, đền thờ và phần mộ của ông tại Tiền Giang giờ đây là di tích lịch sử quốc gia thiêng liêng, quanh năm nghi ngút khói hương chiêm bái. Tên tuổi của ông được trang trọng đặt cho những ngôi trường, những con đường lớn trên khắp cả nước.
Cuộc đời của Nguyễn Hữu Huân là tấm gương ngời sáng cho lý tưởng: sống thanh cao vì đại nghĩa, chết lẫm liệt vì non sông. Khí phách của vị Thủ khoa cầm gươm ra trận sẽ mãi là ngọn đuốc sáng, soi rọi lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ mai sau trên hành trình bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.



