XÃ ĐỨC LẬP--NGUYỄN TRUNG TRỰC BẢN HÙNG CA BẤT TỬ CỦA DÒNG SÔNG VÀ LÒNG ĐẤT NAM BỘ
NGUYỄN TRUNG TRỰC BẢN HÙNG CA BẤT TỬ CỦA DÒNG SÔNG VÀ LÒNG ĐẤT NAM BỘ
NGUYỄN TRUNG TRỰC BẢN HÙNG CA BẤT TỬ CỦA DÒNG SÔNG VÀ LÒNG ĐẤT NAM BỘ
Trong dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử chống ngoại xâm, Nam Bộ những năm nửa sau thế kỷ XIX là một chiến trường bi tráng. Giữa bối cảnh súng thần công thực dân Pháp gầm vang, khói đạn phủ mờ ba tỉnh miền Đông rồi lan sang ba tỉnh miền Tây, khi những sắc phong của triều đình nhà Nguyễn trở nên bất lực trước làn sóng xâm lăng, nhân dân Nam Bộ đã tự tìm lấy lối đi cho riêng mình. Họ đứng lên bằng vũ khí thô sơ, bằng lòng căm thù giặc tột cùng và bằng sự dẫn dắt của những thủ lĩnh áo vải thiên tài. Trong số những đấng nam nhi đại trượng phu ấy, Nguyễn Trung Trực nổi lên như một ngọn hải đăng rực sáng, một biểu tượng vĩ đại của tinh thần độc lập và khí tiết bất khuất vô song.
Nguyễn Trung Trực sinh năm 1838 tại xóm Nghề, làng Bình Nhứt, huyện Cửu An, phủ Tân An (ngày nay thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Ông tên thật là Nguyễn Văn Lịch, thuở nhỏ còn gọi là Chơn. Tổ tiên ông vốn là những ngư dân nghèo ở huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định, vì sinh kế đã dong thuyền vào Nam, chọn vùng hạ lưu sông Vàm Cỏ Đông làm nơi cắm sào, lập nghiệp.
Sinh trưởng trong một gia đình chài lưới, cuộc đời của Nguyễn Văn Lịch gắn liền với sông nước bãi bồi. Sóng gió miệt sông biển đã hun đúc nên ở ông một thể chất phi thường, giỏi võ nghệ, bơi lội tinh thông và một tính cách cương trực, trọng nghĩa khinh tài. Khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, chứng kiến quê hương bị giày xéo, người thanh niên trẻ tuổi đã chọn cho mình cái tên Nguyễn Trung Trực – cái tên mang ý chí sắt đá: giữ trọn lòng trung với đất nước và sống ngay thẳng đến phút cuối cùng. Ông đứng lên chiêu mộ nghĩa binh, chính thức bước vào ngã rẽ lịch sử của một vị chủ tướng.
Lịch sử quân sự Việt Nam thế kỷ XIX không thể không ghi nhận hai chiến công oanh liệt do Nguyễn Trung Trực vạch trần và lãnh đạo. Đó là hai đòn đánh hiểm hóc, bẻ gãy ý chí kiêu ngạo của quân đội viễn chinh Pháp.
Ngày 10 tháng 12 năm 1861, dòng sông Nhật Tảo (Long An) chứng kiến một sự kiện vô tiền khoáng hậu. Tàu chiến L’Espérance (Hy Vọng) của Pháp, một pháo đài di động bọc đồng được trang bị vũ khí hiện đại, đang neo đậu nghênh ngang để khống chế phong trào kháng chiến.
Bằng lòng quả cảm và chiến thuật "hóa trang" mưu trí, Nguyễn Trung Trực cùng 59 nghĩa quân giả làm đoàn ghe đám cưới và ghe buôn lúa để áp sát tàu giặc. Khi áp sát mục tiêu, lệnh tấn công phát ra, nghĩa quân dũng mãnh nhảy lên tàu, dùng đoản đao, giáo mác tiêu diệt lính Pháp và phóng hỏa đốt cháy rụi con tàu. Trận "Hỏa hồng Nhật Tảo" đã làm chấn động giới cầm quyền Pháp tại Sài Gòn, chứng minh rằng vũ khí thô sơ hoàn toàn có thể hủy diệt khí tài hiện đại nếu được dẫn dắt bởi ý chí quyết tử.
Không chịu khuất phục sau khi ba tỉnh miền Tây rơi vào tay giặc, Nguyễn Trung Trực rút quân về vùng U Minh, rồi ra đảo Phú Quốc lập căn cứ. Đêm ngày 16 tháng 6 năm 1868, ông tiếp tục làm nên một kỳ tích khi chỉ huy nghĩa quân tập kích bất ngờ vào đồn Rạch Giá (Kiên Giang) – cơ quan đầu não của thực dân Pháp.
Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, táo bạo và đạt hiệu suất tối đa. Nghĩa quân làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt tên chủ tỉnh chúa ngục cùng toàn bộ lính gác, thu giữ nhiều vũ khí, đạn dược. Đây là lần đầu tiên trong giai đoạn đầu chống Pháp, lực lượng nghĩa quân nông dân đánh sập và làm chủ một trung tâm hành chính cấp tỉnh của thực dân, giáng một đòn chí mạng
Trước sự bao vây gắt gao và thủ đoạn hèn hạ của thực dân Pháp – bắt giữ mẹ già của ông để làm con tin, đồng thời khủng bố, thảm sát nhân dân vùng căn cứ đảo Phú Quốc, Nguyễn Trung Trực đã đưa ra một quyết định xé lòng. Để cứu mẹ, cứu đồng bào và bảo toàn lực lượng nghĩa quân, tháng 9 năm 1868, ông hiên ngang ra mặt, chấp nhận sa vào tay giặc.
Thực dân Pháp vừa kính nể, vừa lo sợ tầm ảnh hưởng của ông nên đã dùng mọi thủ đoạn từ dụ dỗ đến đe dọa. Chúng hứa ban phát bổng lộc, phong chức tước lớn nếu ông chịu quy thuận. Đáp lại những lời chiêu hàng xảo quyệt đó, ông lạnh lùng tuyên bố: "Tôi chỉ muốn một chức vụ thôi, đó là chức gì mà tôi có quyền chặt đầu tất cả bọn Tây xâm lược!".
Biết không thể khuất phục được ý chí của người anh hùng, ngày 27 tháng 10 năm 1868, thực dân Pháp đưa ông ra hành quyết tại chợ Rạch Giá. Trước giờ phút sinh tử, người thanh niên 30 tuổi ấy vẫn ung dung, thanh thản. Ông từ chối bịt mắt, muốn được nhìn thẳng vào quê hương, nhìn thẳng vào họng súng kẻ thù. Trước khi ngã xuống, ông đã hét lớn một câu nói đã trở thành lời sấm truyền độc lập của dân tộc Việt Nam:
"Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam, thì mới hết người Nam đánh Tây!"
Nguyễn Trung Trực ngã xuống, nhưng ngọn lửa từ sông Nhật Tảo và đồn Rạch Giá thì không bao giờ tắt. Câu nói bất hủ của ông trước pháp trường đã trở thành lời tuyên ngôn, ngọn đuốc tinh thần soi đường cho hàng triệu người con đất Việt tiếp nối thế hệ, đứng lên chiến đấu cho đến ngày độc lập hoàn toàn.
Để tri ân người anh hùng áo vải, nhân dân Nam Bộ đã lập đền thờ ông ở khắp nơi. Khói hương tại đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá, Phú Quốc hay Long An suốt hơn một thế kỷ qua chưa bao giờ nguội lạnh. Ông đã bước ra khỏi những trang sử biên niên cô độc để hóa thân thành một vị Thần trong tâm thức người dân – vị Thần cứu nước, hộ quốc an dân.
Cuộc đời của Nguyễn Trung Trực là sự kết hợp hoàn hảo giữa hành động lịch sử dũng cảm, ngôn ngữ báo chí chân thực của những chiến công và lời lẽ văn học bi tráng của một nhân cách lớn. Ông chính là hiện thân cho tinh thần bất khuất của người dân Nam Bộ: giản dị lúc bình thường, nhưng lẫm liệt và hiên ngang khi Tổ quốc lâm nguy.



