XÃ ĐỨC LẬP-TỰA LƯNG VÀO LÒNG DÂN TINH THẦN "BÁM TRỤ VÙNG VEN" CỦA BỘ ĐỘI ĐỨC HÒA SAU NĂM 1968
TỰA LƯNG VÀO LÒNG DÂN TINH THẦN "BÁM TRỤ VÙNG VEN" CỦA BỘ ĐỘI ĐỨC HÒA SAU NĂM 1968
TỰA LƯNG VÀO LÒNG DÂN TINH THẦN "BÁM TRỤ VÙNG VEN" CỦA BỘ ĐỘI ĐỨC HÒA SAU NĂM 1968
Trong cuộc đời làm báo lịch sử của mình, tôi đã đi qua nhiều vùng đất, lật mở nhiều trang biên niên ký, nhưng có lẽ giai đoạn lịch sử sau mùa hè năm 1968 tại chiến trường Đức Hòa (Long An) luôn để lại trong tôi những cảm xúc nghẹn ngào và khâm phục nhất. Đó là thời kỳ mà người ta vẫn thường gọi bằng cái tên: Giai đoạn thử lửa ngặt nghèo nhất.
Sau tiếng vang chấn động của hai đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, kẻ thù điên cuồng phản kích hòng giành lại thế chủ động. Chính trong những năm tháng gian lao ấy, tinh thần "bám trụ vùng ven" của bộ đội địa phương và du kích Đức Hòa đã trở thành một biểu tượng bất tử của lòng trung thành và ý chí sắt đá.
Năm 1969: "Bình định cấp tốc" và những thử thách khắc nghiệt tột cùng
Bước sang năm 1969, cục diện chiến trường miền Nam thay đổi căn bản. Mỹ - Ngụy ráo riết triển khai chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" và tung ra quốc sách "Bình định cấp tốc", "Bình định đặc biệt". Tại Đức Hòa — vành đai bảo vệ Tây Bắc Sài Gòn — địch biến nơi đây thành một túi bom đạn khổng lồ.
Thủ đoạn tàn bạo của địch: Sư đoàn 25 Mỹ và Sư đoàn 25 ngụy đóng đồn bốt dày đặc như mạng nhện. Chúng dùng xe ủi san phẳng bờ tre, rặng sậy, chà xát các vùng ven, biến nông thôn trù phú thành "vùng trắng" tự do oanh tạc hòng cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ giữa bộ đội và nhân dân. Chúng thực hiện chính sách kiểm soát gắt gao lương thực, "bỏ đói" lực lượng cách mạng, tuyên bố sẽ bóc gỡ hoàn toàn lực lượng du kích ra khỏi vùng ven Sài Gòn.
Thế ngặt nghèo của bộ đội ta: Đây là thời điểm lực lượng vũ trang Đức Hòa gặp muôn vàn tổn thất. Nhiều cơ sở mật bị vỡ, hầm bí mật bị khui, nguồn tiếp tế lương thực và thuốc men bị bóp nghẹt. Có những lúc, các chiến sĩ phải nhịn đói nhiều ngày, ngâm mình dưới nước thối bám trụ rìa sậy, da lở loét vì chất độc hóa học.
Nhưng, một mệnh lệnh không lời đã vang lên trong tâm khảm mỗi người chiến sĩ: "Một tấc không đi, một ly không rời. Còn dân là còn căn cứ." Giai đoạn 1970 – 1971: Nghệ thuật "Hóa thân vào lòng đất" và những trận đánh tỉa nảy lửaKhông thể duy trì các đơn vị tập trung lớn trước hỏa lực càn quét dày đặc của địch, từ năm 1970 đến năm 1971, bộ đội địa phương Đức Hòa phối hợp cùng du kích các xã Mỹ Hạnh, Đức Lập, Hựu Thạnh... chủ động xé lẻ lực lượng, chuyển sang phương thức hoạt động phân tán, bám trụ vùng ven theo mô hình cài răng lược.
Sự mưu trí của "Thế trận lòng dân": Khi mặt đất đã bị cày nát, bộ đội Đức Hòa đã "hóa thân" vào lòng đất. Hệ thống hầm bí mật được đào ngay sát nách đồn bốt địch, dưới nền nhà, chuồng bò của người dân. Ban ngày, địch lùng sục ráo riết phía trên; ban đêm, khi chúng co cụm lại, các chiến sĩ ta lại chui lên, cùng du kích tổ chức diệt ác phá kìm.
Các bà, các mẹ Đức Hòa trở thành những "bức tường thành" chở che bộ đội. Địch kiểm soát gạo muối, các mẹ giấu gạo vào ruột tượng quấn quanh người, giả vờ đi làm ruộng để tiếp tế cho chiến sĩ dưới hầm. Máu của biết bao người dân kiên trung đã đổ xuống để giữ bí mật cho một cửa hầm.
Đòn đánh tỉa tiêu hao: Trong suốt hai năm 1970 - 1971, tinh thần bám trụ được hiện thực hóa bằng nghệ thuật chiến tranh du kích đỉnh cao. Không có pháo lớn, bộ đội ta dùng mìn tự chế từ bom lép của Mỹ, kết hợp súng bắn tỉa gài bẫy lính tuần tra. Sự xuất quỷ nhập thần của bộ đội vùng ven làm phá sản tiến trình bình định của địch, khiến binh lính ngụy luôn sống trong trạng thái khủng hoảng tâm lý, ra khỏi đồn là run sợ.
Năm 1972: Phục hồi thế trận, mở toang cánh cửa đón quân chủ lực
"Lửa thử vàng, gian nan thử sức", sự kiên cường bám trụ không biết mệt mỏi của bộ đội Đức Hòa cuối cùng đã hái được quả ngọt. Bước sang năm 1972, phong trào cách mạng địa phương bắt đầu phục hồi vững chắc và chuyển sang thế chủ động tiến công.
Nhờ giữ vững được các "lõm" căn cứ vùng ven và hành lang thông tin ven sông Vàm Cỏ Đông suốt những năm đen tối trước đó, trong Cuộc tiến công chiến lược năm 1972, bộ đội Đức Hòa đã làm tốt vai trò "người dẫn đường".
Ta phối hợp nhịp nhàng với các cánh quân chủ lực từ miền Đông tràn xuống, đồng loạt nổ súng đánh sập hàng loạt phân chi khu quân sự, giải phóng nhiều vùng nông thôn rộng lớn, đẩy lui hoàn toàn các sư đoàn sừng sỏ của địch về thế phòng ngự co cụm ở thị xã.
Ý nghĩa lịch sử và tượng đài bất tử của lòng dân
Tinh thần "bám trụ vùng ven" của bộ đội Đức Hòa giai đoạn sau năm 1968 là một trong những trang sử vàng chói lọi, chứng minh một chân lý vĩnh hằng của chiến tranh nhân dân Việt Nam: Vũ khí, bạo lực tối tân của kẻ thù có thể hủy diệt mọi công sự bằng gạch đá, bê tông, nhưng hoàn toàn bất lực trước những "công sự lòng dân" kiên cố.
Nếu không có sự kiên trì, dũng cảm chấp nhận hy sinh của những người chiến sĩ bám trụ vùng ven năm ấy, chúng ta đã không thể giữ được mạch máu hành lang chiến lược nối liền biên giới với Sài Gòn. Chính sự bám trụ kiên cường đó đã tạo tiền đề cốt lõi, làm bàn đạp vững chắc để các đại đoàn quân chủ lực rầm rập tiến về trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn quê hương vào ngày 29 tháng 4 năm 1975.
Hơn nửa thế kỷ đã lùi xa, những vùng ven rực lửa bom đạn năm xưa của Đức Hòa nay đã trở thành những khu công nghiệp sầm uất, những đô thị khang trang và những cánh đồng trù phú. Dấu tích của những căn hầm bí mật năm nào giờ nằm im lìm trong bảo tàng hay ký ức của những người cựu chiến binh tóc bạc. Thế nhưng, mốc thời gian gian lao sau năm 1968 sẽ mãi mãi là ngọn lửa lịch sử linh thiêng, nhắc nhở thế hệ hôm nay về một thời kỳ mà cha anh đã tựa lưng vào lòng dân để viết nên bản tráng ca bất tử của lòng yêu nước và ý chí tự lực tự cường.



