xã Kháng Chiến (10)
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tạ Quốc Luật, sinh năm 1925 tại một làng ven biển huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Lớn lên giữa những năm tháng nước mất nhà tan, chàng thanh niên Luật sớm chứng kiến cảnh quê hương bị tàn phá bởi chiến tranh, từ đó nuôi trong mình khát vọng đứng lên giành lại độc lập.
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Tạ Quốc Luật, sinh năm 1925 tại một làng ven biển huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình. Lớn lên giữa những năm tháng nước mất nhà tan, chàng thanh niên Luật sớm chứng kiến cảnh quê hương bị tàn phá bởi chiến tranh, từ đó nuôi trong mình khát vọng đứng lên giành lại độc lập. Năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông là một trong những đoàn viên thanh niên đầu tiên của xã ghi danh tham gia tự vệ, rồi gia nhập lực lượng vũ trang địa phương.
Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, Tạ Quốc Luật được biên chế vào Trung đội du kích Thái Thuỵ, sau chuyển lên đơn vị chủ lực của Trung đoàn 42, Liên khu 3. Địa bàn hoạt động của ông là vùng duyên hải Thái Bình – Nam Định – Ninh Bình, nơi địch tập trung nhiều đồn bốt để kiểm soát lương thực và đường vận tải ra chiến khu.
Những năm tháng sống giữa khói lửa
Ông sống phần lớn tuổi trẻ giữa những căn hầm bí mật dưới rặng phi lao ven biển, ngày ngụy trang, đêm luồn sâu vào đồn địch để trinh sát. Ông kể lại với đồng đội cũ rằng có những tháng liền không thấy ánh mặt trời, chỉ nghe tiếng sóng biển hòa cùng tiếng đại liên nổ rền từ các tàu tuần tra của Pháp. “Có những đêm lạnh cắt da, nằm dưới hầm chỉ nghe tiếng sóng thôi cũng thấy sống lưng như buốt lại, vì biết hễ lộ một dấu vết nhỏ là máy bay pháo sáng sẽ trút xuống ngay”, lời kể ấy được đồng đội truyền lại.
Giai đoạn 1951–1952, khi chiến trường Liên khu 3 trở nên ác liệt, ông Luật trực tiếp tham gia nhiều trận đánh mở đường, đánh vận động và chống càn ở Thụy Trường, Thụy Xuân, Diêm Điền. Có trận, đơn vị ông phải bám trụ trong một hầm lót rơm suốt 9 ngày đêm, chỉ ăn khoai khô và nước mưa hứng từ mái nilon. Sự hiểm nghèo luôn rình rập: “Chỉ cần sơ sẩy một tiếng động nhỏ khi chuyển súng, cả trung đội có thể bị lộ và bị pháo dập nát ngay”, ông từng dặn lớp chiến sĩ trẻ trong đơn vị.
Những trận chiến không bao giờ quên
Trận đánh để lại dấu ấn sâu nhất trong cuộc đời ông Luật là trận phục kích tại bến phà Sa Cao năm 1953. Khi đó, trung đội ông nhận nhiệm vụ cắt đường tiếp tế của quân Pháp từ Nam Định ra ven biển. Để vào được vị trí đặt mìn, ông và hai chiến sĩ khác phải bò trong bùn ngập đến ngực, vượt qua ba lớp dây thép gai và hàng loạt bãi chông do địch rải. “Chúng tôi phải quấn bao tải quanh người, dùng dao găm cắt từng nấc dây gai, tuyệt đối không được để tiếng kim loại chạm nhau”, một đồng đội của ông từng thuật lại.
Khi đoàn xe cơ giới lọt vào trận địa lúc rạng sáng, mìn nổ vang trời, đánh gãy hoàn toàn tuyến tiếp tế của địch. Sau trận này, Tạ Quốc Luật được đề nghị kết nạp Đảng, lúc ấy ông chỉ mới bước sang tuổi 28.
Nhưng chiến thắng nào cũng phải trả giá. Một người bạn chiến đấu thân thiết của ông, quê cùng xã, hy sinh khi đang cõng một đồng đội bị thương ra khỏi đường đạn. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, anh nắm tay ông Luật nói khẽ: “Đừng để quê mình mãi trong khói lửa…”. Câu nói ấy theo ông đến hết cuộc đời, mỗi lần nhắc lại, ông đều lặng đi rất lâu.
Từ chống Mỹ đến ngày toàn thắng
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, theo yêu cầu nhiệm vụ, ông Luật ở lại trong quân đội, tiếp tục công tác tại đơn vị phòng thủ bờ biển Bắc Bộ. Năm 1965, khi chiến tranh phá hoại lan ra miền Bắc, ông tham gia lực lượng phòng không – dân quân biển của tỉnh. Không ít lần, ông chỉ huy đơn vị cơ động chống tàu biệt kích địch ngoài cửa sông Diêm Hộ, nhiều đêm dài thức trắng cho đến khi bầu trời thôi rực sáng bởi bom napan.
Đến năm 1972, ông được điều vào tuyến chi viện Trường Sơn, giữ nhiệm vụ dẫn đường và bảo vệ kho hàng của quân đội. Những tháng ngày vượt dốc đèo, bom nổ bên tai đã in hằn trong ông suốt phần đời còn lại. “Có đoạn đèo đá dựng đứng, máy bay rải thảm suốt buổi chiều, vậy mà anh em vẫn bám đường, bám xe để gạo, đạn kịp vào chiến trường miền Nam”, đồng đội kể lại.
Tháng 4-1975, khi chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, ông Luật đang cùng đơn vị trực chiến ở một kho hậu cần miền Bắc. Nghe tin Sài Gòn giải phóng, ông đã bật khóc. Ông bảo: “Khóc vì mừng, nhưng cũng khóc vì nhớ những người bạn đã nằm lại dọc đường Trường Sơn.”
Sau hòa bình
Sau năm 1975, Tạ Quốc Luật tiếp tục công tác trong quân đội rồi về hưu với cấp bậc trung tá. Ông dành phần đời còn lại để chăm lo cho gia đình, tham gia công tác cựu chiến binh và giáo dục truyền thống cách mạng ở địa phương. Năm 2004, ông qua đời, hưởng thọ 79 tuổi.
Đối với những người từng sống và chiến đấu bên cạnh ông, Tạ Quốc Luật không chỉ là một người chỉ huy quả cảm mà còn là một tấm gương về nhân hậu và trách nhiệm. Ông thường nhắc lớp trẻ trong thôn:
“Hòa bình không tự nhiên mà có. Nó được xây bằng máu, nước mắt và cả tuổi xuân của bao người. Mất đi ký ức ấy là đánh mất tương lai của chính mình.”
Dù chiến tranh đã lùi xa, trong ký ức của đồng đội và nhân dân Thái Thuỵ, hình ảnh người chiến sĩ Tạ Quốc Luật – kiên trung, giản dị và trọn đời vì đất nước – vẫn luôn sống mãi.


