XÃ KHAO MANG NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946-1954)
XÃ KHAO MANG NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946-1954)
XÃ KHAO MANG NHỮNG NĂM KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1946-1954)
Cuối năm 1946, thực dân Pháp bắt đầu đánh chiến Than Uyên. Ngày 2/10/1947, một cánh quân Pháp từ Phù Yên (Sơn La) đánh Thượng Bằng La. Ngày 8/10/1947, quân Pháp từ nhiều hướng tiến đánh Nghĩa Lộ. Cánh quân từ Sơn La qua Ít Oong, Nậm Khắt hợp với một đơn vị từ Than Uyên sang qua đèo Khau Phạ, xuống Tú Lệ và Nghĩa Lộ. Sau khi chiếm được các vị trí này, thực dân Pháp ra sức lập ngụy quyền, bắt thanh niên các dân tộc đi lính, nhằm mở rộng phạm vi chiếm đóng.
Thực hiện chủ trương của tỉnh, nhiều đội du kích ở các địa phương trước cách mạng tháng Tám năm 1945 được củng cố thêm về tổ chức, số lượng, trang bị vũ khí. Ở các địa bàn vùng cao, vùng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số; đặc biệt là những nơi địch tạm chiếm, tỉnh cho chủ trương thành lập các đội du kích. Trên địa bàn Mù Cang Chải các đội du kích Khau Phạ, Chế Tạo, Lao Chải lần lượt được thành lập, đây là lực lượng nòng cốt bảo vệ chính quyền địa phương, bảo vệ nhân dân. Trước sự uy hiếp của địch đối với vùng tự do của ta, Bộ Tư lệnh Khu 10 quyết định mở mặt trận Tây Tiến nhằm mục đích ngăn chặn quân Pháp đánh vào vùng tự do của ta, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng. Đầu tháng 11/1947 Tỉnh uỷ Yên Bái thành lập nhiều tổ công tác và đội võ trang tuyên truyền về các vùng tạm chiếm hoạt động xây dựng cơ sở, phát động phòng trào du kích và có tác dụng tích cực đến phong trào ở Mù Cang Chải trong đó có xã Khao Mang. Tháng 5/1949 Bộ tư lệnh quyết định đánh mạnh ở Tây Bắc để mở rộng căn cứ địa, phá thế uy hiếp của địch đối với Việt Bắc. Một bộ phận của Đại đội 520 do đồng chí Kim Sơn chỉ huy đã phối hợp với đội du kích Khau Phạ, Púng Luông, Khao Mang...cùng với Nhân dân các xã tiến hành bao vây, làm cho chúng mất liên lạc, thiếu lương thực, buộc chúng phải rút về Than Uyên.
Đầu năm 1950, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị mở chiến dịch Tây Bắc (đặt tên là chiến dịch Lê Hồng Phong màn I). Mục đích của chiến dịch là làm tan rã khối ngụy binh, tiêu diệt một số vị trí địch, giải phóng một phần đất đai bị giặc chiếm đóng. Ngày 8/2/1950, chiến dịch Lê Hồng Phong mở màn, với hai hướng tấn công địch ở Phố Lu và đồn Nghĩa Đô, đến tháng 3/1950 màn I chiến dịch Lê Hồng Phong kết thúc, bộ đội chủ lực rút ra ngoài để củng cố. Trước tình hình đó, ngày 23/3/1950 Tỉnh uỷ Yên Bái mở hội nghị bàn biện pháp chống địch càn quét. Đồng thời lúc này bộ tư lệnh mặt trận Tây Bắc quyết định điều đại đội 520 và đại đội 96 tấn công lên Bình Lư, lực lượng du kích và Nhân dân các dân tộc huyện Mù Cang Chải lại cùng kề vai, sát cánh cùng bộ đội đánh giặc, nổi bật là các trận phục kích của ta đánh địch ở Púng Luông, Khao Mang và Mường Kim với trận đánh phục kích làm tiêu hao lực lượng địch rất nhiều, Nhân dân rút vào rừng vừa làm lán để sản xuất vừa nuôi dấu cán bộ, tiếp tục xây dựng cơ sở (gia đình nuôi dấu cán bộ, bộ đội tiêu biểu như gia đình ông Lù Giàng Páo, ông Vàng Vảng Páo bản Háng Bla Ha; gia đình ông Sùng A Chơ bản Séo Mả Pán; gia đình ông Giàng A Chang bản Páo Sơ Dào, gia đình ông Vàng A Dờ bản Háng Bla Ha).
Tháng 11/1950 chiến dịch Lê Hồng Phong màn II liên tiếp giành thắng lợi, giải phóng tỉnh Lào Cai, thực dân Pháp hoảng sợ tập trung quân dồn về đồng bằng Nghĩa Lộ, Than Uyên, Sơn La, chúng tăng cường quân nhằm cố thủ với mục đích giữ bằng được hai vựa thóc lớn là Mường Lò (Văn Chấn) và Mường Than (Than Uyên). Chúng còn dùng chính sách “chia để trị”, chia rẽ người dân tộc này với dân tộc khác, chúng huy động người Thái từ Sơn La, Lai Châu sang để đàn áp, đốt nhà, chém người Mông ở Mồ Dề, Kim Nọi. Chế Cu Nha... chúng tổ chức gắn mề đay nhằm cổ vũ tinh thần cho bọn ngụy binh, tay sai và phản động, chúng tiếp tục khủng bố càn quét, tăng cường dồn dân, bắt lính, xây dựng đồn bốt ở Kim Nọi, Lao Chải, Khao Mang...làm căn cứ nhằm mở đường dây tăng cường cho lực lượng địch hậu. Trước âm mưu thủ đoạn nham hiểm của địch, Tỉnh uỷ Yên Bái đã đề ra chủ trương cho các vùng tạm chiếm: Tăng cường xây dựng cơ sở chính trị, đẩy mạnh ngụy vận, tổ chức chiến tranh du kích, quấy rối, tiêu hao nhiều sinh lực địch.
Tháng 9/1951, Bộ tư lệnh mở chiến dịch Lý Thường Kiệt nhằm vừa tiêu sinh lực địch, vừa tạo đà cho chiến tranh du kích phát triển, củng cố cơ sở vùng địch hậu. Chiến dịch Lý Thường Kiệt đã tạo điều kiện cho các cơ sở được nối liền và phục hồi nhanh chóng, hoạt động khá hiệu quả, du kích vùng tạm chiếm đã phối hợp với bộ đội mở nhiều trận đánh lớn tiêu diệt cả đại đội số 6 và tiểu đoàn Thái số 2 bị ta diệt gọn. Chiến dịch Lý Thường Kiệt kết thúc ngày 1/11/1951, sau đó bộ đội chủ lực rút khỏi Than Uyên, quân Pháp và bọn tay sai lại tái chiếm.
Tháng 12/1951, chúng tổ chức nhiều đợt càn quét xuống Than Uyên, chúng huy động 300 quân càn xuống Kim Nọi (tổng Mù Cang Chải), đồng bào Mông Mù Cang Chải nói chung, đồng bào Mông xã Khao Mang nói riêng sau thời gian vượt qua nhiều thử thách ác liệt qua các trận càn quét của địch, nay được củng cố, được bộ đội kề vai sát cánh, lực lượng du kích cũng được trưởng thành và có thêm kinh nghiệm trong chiến đấu đã cùng với bộ đội tổ chức nhiều trận phục kích chống càn đạt hiệu quả cao, một số tề ngụy bị trừng trị, bị cảnh cáo đã hoảng sợ không dám hung hăng chống phá cách mạng.
Tháng 10/1952, Bộ tổng tư lệnh mở chiến dịch Tây Bắc giải phóng phân khu Nghĩa Lộ và các tiểu khu Than Uyên, Phù Yên, Mường La. Trong 2 ngày 17, 18 tháng 10 năm 1952, Đại đoàn 308 đã tấn công trung tâm phân khu Nghĩa Lộ, khiến chúng thất bại thảm hại và tìm đường tháo chạy, Văn Chấn, Nghĩa Lộ hoàn toàn được giải phóng.
Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những giải phóng một vùng chiến lược, mở thông cánh cửa sang phòng tuyến sông Đà. Âm mưu chia rẽ đoàn kết giữa các dân tộc bị phá sản hoàn toàn, Mù Cang Chải hoàn toàn giải phóng khỏi ách chiếm đóng của thực dân Pháp, người dân lần lượt trở về bắt đầu xây dựng lại bản làng, quê hương.
Ngay sau chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, Tỉnh uỷ Yên Bái đã đề ra một số chủ trương cho các vùng mới giải phóng thuộc châu Văn Chấn, Than Uyên nhanh chóng thành lập chính quyền cách mạng, khôi phục sản xuất, giúp dân ổn định cuộc sống. Tỉnh và Huyện cử các đoàn cán bộ xuống từng địa phương tuyên truyền đường lối của Đảng và Chính phủ, kêu gọi bà con dân bản yên tâm lao động sản xuất, giúp đỡ cán bộ, bộ đội truy quét ngụy quân, ngụy quyền.
Thực hiện sự chỉ đạo của cấp trên, cuối năm 1952, chính quyền ở địa phương được củng cố, xây dựng. Mỗi uỷ ban xã có từ 3 đến 5 người. Nhưng do thiếu cán bộ, nên uỷ ban chủ yếu là các chức dịch cũ có tiến bộ, giúp đỡ kháng chiến, có uy tín trong cộng dân tộc địa phương. Cùng với chính quyền, các tổ chức đoàn thể quần chúng cũng được hình thành, song do điều kiện miền núi, xa xôi, hẻo lánh, dân cư ở phân tán, sự giác ngộ còn hạn chế. Vì vậy, vai trò và hoạt động của các tổ chức này chưa rõ nét như các địa phương ở vùng thấp.
Ngày 15/10/1952 Than Uyên được giải phóng có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần đưa chiến dịch Tây Bắc mau đến thắng lợi. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Châu uỷ và chính quyền địa phương, Nhân dân tổ chức thu hoạch xong vụ lúa mùa. Mậu dịch quốc doanh ở huyện đã được mở mang bán những mặt hàng thiết yếu cho dân như muối, dầu hỏa, vải... việc làm trên góp phần phục vụ đời sống Nhân dân vùng mới giải phóng nhưng cũng đập tan luận điệu của bọn phản động tuyên truyền cho bà con dân tộc là Việt Minh không cho dân muối ăn. Cùng với việc nhanh chóng ổn định sản xuất và đời sống cho dân, lực lượng dân quân du kích xã cũng được kiện toàn. Một số đồng chí chỉ huy được đi dự lớp bồi dưỡng cán bộ xã đội cơ sở của huyện Văn Chấn.
Sau chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, thực dân Pháp lún sâu vào thế bị động. Để cứu vãn tình thế, thực dân Pháp tiến hành âm mưu gây phỉ ở những vùng có điều kiện thuận lợi, nhằm mục đích phá hoại hậu phương kháng chiến của ta, kìm chân các binh đoàn cơ động, chiến lược của Bộ tổng tư lệnh, tạo điều kiện cho quân Pháp giành lại thế chủ động chiến lược đã mất. Thực dân Pháp coi gây phỉ là biện pháp chiến lược, một bộ phận của chiến tranh xâm lược cho nên tập trung rất lớn người, của cải, vũ khí. Những nơi thực dân Pháp âm mưu gây phỉ là vùng biên giới Việt - Trung. Đây là vùng rừng núi hiểm trở, kinh tế, văn hóa, xã hội rất lạc hậu, những thành kiến giữa các dân tộc còn nặng nề, sự phân hoá giai cấp chưa sâu sắc, quan hệ dân tộc, dòng họ còn đậm nét, cơ sở và ảnh hưởng của cách mạng còn hạn chế. Đó là những điều kiện thuận lợi để chúng thực hiện âm mưu gây phỉ. Khao Mang nói riêng và vùng cao Mù Cang Chải là những nơi mà thực dân Pháp thực hiện âm mưu gây phỉ, tuy nhiên, đây không phải là những trung tâm tập trung phỉ lớn.
Đầu năm 1953, thực dân Pháp thả 45 tên biệt kích xuống Than Uyên, xác định lấy Than Uyên là một trong địa bàn trọng yếu, là bộ phận trong kế hoạch gây phỉ quy mô lớn của thực dân Pháp ở vùng Tây Bắc, âm mưu này chúng chuẩn b từ (năm 1949), chúng cấp tốc tuyển người tham gia lực lượng phỉ, cung cấp vũ khí, lương thực Các tên đầu sỏ phản động ở Khao Mang là Sùng Giàng Páo, Lù Vàng Páo, Sùng A Chơ, Giàng A Nhà, Giàng A Váng, Giàng Chờ Páo, Lý Sình Páo, nhiều thanh niên bị xúi giục và thúc ép theo phỉ. Ban đầu bọn phản động đóng giả là dân đ buôn đường dài để tránh sự nghi ngờ và phát hiện của ta, dần dần chúng công khai đi lại và nhận vũ khí. Được tăng cường thêm lực lượng, có trang bị vũ khí và có các tên cầm đầu, nên hoạt động của phỉ rất ngang nhiên. Chúng treo giải, hễ một người dân đi nhận súng được hưởng 50 đồng Đông Dương. Chúng tuyên truyền trong dân các khẩu hiệu “Xứ Thái tự trị không có người Kinh”, “Người thiểu số không bắn người thiểu số”, lợi dụng chính sách thu thuế nông nghiệp và đi dân công của Nhà nước ta chúng đưa ra các luận điệu phản động: “đánh người Kinh để giải phóng thuế, giải phóng dân công”. Chúng hô hào nhân dân phá các kho tàng của ta để cướp lương thực, thực phẩm, vũ khí. Với các thủ đoạn vừa lừa bịp, vừa đe doạ, cưỡng ép vừa mua chuộc chúng đã lôi kéo được một bộ phận quần chúng nhân dân, vô hiệu hóa một số chính quyền của ta ở cơ sở. Mục đích của chúng hòng chia rẽ khối đại đoàn kết giữa các dân tộc, làm cho Nhân dân ta xa lánh cán bộ, bộ đội, không tin Chính quyền.
Tình trạng nổi phỉ diễn ra nghiêm trọng, tuy nhiên đại bộ phận Nhân dân xã Khao Mang vẫn một lòng một dạ theo Đảng, theo Bác Hồ và Chính phủ, một bộ phận nhỏ bị lôi kéo, mù quáng đi theo con đường lầm lỗi đó.
Trước sự hoạt động ngày càng tăng của bọn biệt kích, gián điệp và bọn phản động, tháng 7/1953, Tỉnh uỷ Yên Bái đề ra chủ trương là: Tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ đối với vùng mới giải phóng, xây dựng củng cố chính quyền mới, khôi phục phát triển kinh tế - xã hội; truy quét bọn ngụy quân, ngụy quyền; giáo dục cho cán bộ, bộ đội các cấp thường xuyên nâng cao ý thức cảnh giác, kiên quyết trừng trị các hoạt động của chúng, phá âm mưu thổ phỉ hoá trong nhân dân vùng có đông đồng bào thiểu số”. Quán triệt chủ trương của Tỉnh ủy, huyện tổ chức cho cán bộ, bộ đội học tập phương châm tiễu phỉ của Trung ương Đảng; với phương châm lấy chính trị là chủ yếu, quân sự làm áp lực, chú ý cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc và học tập những kinh nghiệm tiễu phỉ của tỉnh Lào Cai (năm 1952).
Do lực lượng của ta quá mỏng và còn yếu nên những kết quả trên chưa đủ sức ngăn chặn được hoạt động của bọn biệt kích, gián điệp và phản động. Cơ sở của chúng ngày càng mở rộng, lực lượng ngày càng đông lên tới 200 tên, chúng bắt đầu phục kích, tập kích các đơn vị bộ đội. Từ giữa tháng 11/1953, phỉ mở rộng hoạt động về phía khu du kích cũ như Khao Mang, Lao Chải, Chế Cu Nha... Lúc này lực lượng phỉ phát triển lên tới 2.000 tên (trong đó có 700 tên phỉ xuất thân ở Mù Cang Chải, trong đó Khao Mang có 25 tên).
Trước tình hình trên, Tỉnh uỷ Yên Bái xác định tiễu phỉ là công tác quan trọng, cấp bách, cần kiên quyết tập trung cán bộ, tăng cường lực lượng quân sự đánh vào các vị trí trung tâm của phỉ, củng cố cơ sở vùng đồng bào Mông, phát triển xuống vùng đồng bào Thái. Thực hiện chủ trương trên, đồng chí Nguyễn Đức - Bí thư Tỉnh uỷ cùng đồng chí Nguyễn Tiến Thanh (Tỉnh đội trưởng) trực tiếp chỉ đạo tiễu phỉ. Châu uỷ Than Uyên cũng phân công cán bộ xuống các địa bàn, dựa vào các cơ sở còn lại nắm tình hình và tổ chức lại lực lượng. Đồng chí Hà Khiêm phụ trách xã Khao Mang.
Đầu tháng 11/1953, Bộ Tư Lệnh khu X điều các đơn vị bộ đội địa phương của tỉnh Yên Bái tham gia tiễu phỉ, các Đại đội 96 và Đại đội 95, phối hợp với trung đoàn 246 tham gia nhiều trận đánh giành thắng lợi vang dội. Sau một thời gian tập trung lực lượng, đấu tranh kiên quyết, cuộc đấu tranh chống lại âm mưu gây phỉ của thực dân Pháp và bọn phản động của ta hoàn toàn thu được thắng lợi. Những tên đầu sỏ bị trừng trị (ở Khao Mang có tên Lù Giàng Páo, Sùng Giàng Páo) nhiều tàn phỉ mang súng ra hàng, những người lầm đường lạc lối được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng và Chính phủ đã trở về địa phương làm ăn sinh sống, đoàn tụ với gia đình, ở Khao Mang bọn tàn quân phỉ nộp súng và một số phương tiện khác. Thừa thắng bộ đội ta liên tục tổ chức các đợt tấn công, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Trong 5 ngày từ ngày 9 - 15/1/1954 ta đã giải quyết xong số phỉ ở các điểm Séo Mả Pán, Háng Bla Ha, Cồ Dì Sáng, Séo Dì Hồ, Hồ Nhì Pá, Háng Gàng, thu 56 súng, diệt một số tên, bắt được 4 tên gián điệp. Sau khi giải quyết xong các điểm trên, nhân dân vui mừng giúp đỡ bộ đội, du kích địa phương. Trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp và tiễu phỉ ở Khao Mang có sự đóng góp không nhỏ của Nhân dân trong xã ủng hộ lương thực, thực phẩm, dẫn đường và nuôi giấu bộ đội.
Từ thực tiễn đấu tranh giải quyết vấn đề phỉ giúp chính quyền địa phương những kinh nghiệm bước đầu rất quan trọng đó là: Vận dụng sáng tạo phương châm tiễu phỉ của Trung ương kết hợp song song giữa chính trị và quân sự, lấy chính trị làm căn bản, quân sự làm áp lực, dùng lực lượng vũ trang đánh tan các mục tiêu của phỉ, tiêu diệt sinh lực của chúng, đặc biệt là bọn cầm đầu. Vai trò của các tổ chức quần chúng trong vận động người thân giao nộp súng trở về chính nghĩa thực sự quan trọng. Cùng với việc thực hiện đúng đắn chính sách khoan hồng đối với những người nhẹ dạ, cả tin, bị cưỡng bức theo phỉ đã thực sự hối cải, góp phần giải quyết nhanh chóng nạn phỉ ở địa phương nói riêng và cả khu vực Tây Bắc nói chung. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (1954), thực dân Pháp buộc phải ký Hiệp định Giơ ne vơ, âm mưu gây phỉ của địch đã thất bại hoàn toàn.



