Xa ngái làng Lon
Những ngày tản cư về trọ nhà tôi ở làng Việt Yên cuối năm 1949 còn gọi là Làng Lon là quãng thời gian khó của vợ chồng bác giáo Tiến.
Làng Lon mười tám nóc nhà… Câu ấy có lẽ về sau chứ hồi ấy đâu đủ 18 hộ? Dân túng đói quanh năm. Ăn còn chẳng đủ biết gì đến cái màn. Cứ chặp chiều một thứ âm thanh nghe rờn rợn là tiếng đập cánh và có thể là tiếng kêu của hàng vạn muỗi vằn muỗi thường, hợp nên thứ âm thanh u quái, khiếp. Nạn sốt rét hoành hành. Có thời làng quang cả người vì chứng sốt rét bụng báng. Chứng sưng lách ấy mau chết lắm. Người qua được cũng chả thọ.
Khi đã lơn lớn, qua chỗ chuồng trâu có mấy cột gỗ nhãn mà giống mọt kẽo kẹt lâu ngày đã thành thứ hình khối lỗ chỗ khá bắt mắt, mẹ tôi lại nhắc chuyện về bác giáo Tiến.
Chuyện, hai vợ chồng bác giáo tản cư hơn một năm đã phải ở tạm gian chuồng trâu này. Nhà chật ở chung mãi không tiện. Thày tôi thưng tạm thành một gian. Ở riêng thì phải ăn riêng. Hai vợ chồng bác giáo chẳng nghề ngỗng chẳng biết làm thứ gì cho ra miếng ăn nơi xứ lạ khỉ ho có gáy này. Có lẽ trông chờ vào chút tiền vụn giắt lưng theo từ khi rời Hà Nội, Khu Ba. Thi thoảng thày mẹ tôi cũng có chút san sẻ.
Cái niêu đất nhà bác giáo có tí gạo cõng lổn nhổn những sắn nạo cùng củ dong riềng. Cái giống dong riềng nạp vô bụng khi đói, xót ruột lắm. Nhưng không dằn bụng thì biết lấy thức gì thế vô? Bác giáo trai hăm hở miệt mài câu cá ngoài đồng chiêm. Thời ấy cá mú sẵn. Một hôm, được con cá sộp rõ to, bác phấn khởi oang oang từ ngoài ngõ. Đám hương nông (tự vệ) vốn ghét dân tản cư, ngứa mắt tịch thu nói cá là tài sản chung rồi ra lệnh cấm câu. Thày tôi nói cũng chả lại…
Bác giáo Tiến, hồi đầu chưa có cái tên ấy? Chỉ khi bác nhiệt thành bày tỏ với thày tôi là thưa với lãnh đạo xã cho bác làm công tác bình dân học vụ. Cả hai vợ chồng đều tham gia nhiệt tình. Bác giai tích cực nhất. Họ năng nổ nhiều việc của nông hội như đổi công và cả làm thuê làm mướn nhưng việc chính vẫn là lên lớp ở cái sân đất nện phẳng phiu nhà tôi. Có nhiều buổi tranh thủ học đêm. Lứa các cụ trật tuổi mẹ tôi trong làng đã võ vẽ đọc được sách báo nhờ vào cách truyền thụ theo cung cách mà sau này mới biết là của ông Hoàng Xuân Hãn “O tròn như quả trứng gà/ Ô thì đội nón Ơ thì thêm râu”. Nhưng rồi sau này khi vợ chồng bác giáo chuyển đi thì mẹ tôi tái mù chữ cho đến tận ngày về với ông bà năm 90 tuổi!
Thày tôi từng nhiệt tình khuyến khích bác giáo tham gia công tác bình dân học vụ và thuế nông nghiệp một thời gian sau, người lại khuyến khích ý đồ kinh doanh hơi bị lạ của bác giáo! Ấy là việc mở một cái quán ngay dưới chân Cây Cáo Một. Cây gạo (quê tôi gọi là cáo) cổ thụ cách làng hơn cây số gần Dốc Cuội hay Eo Cuội. Con dốc ngày đó khá hiểm trở bắt vào huyện Thạch Thành có những địa danh như Kim Tân gần với Rịa Nho Quan gần như tụ điểm của vùng tự do kháng chiến Khu Tư.
Cái quán cháo (cháo hoa nấu loãng ăn với cà muối), nước chè xanh và kẹo bột của hai vợ chồng bác giáo tản cư thèo đảnh dưới Gốc Cây Cáo Một, một dạo dài khá xôm tụ dân tản cư. Rồi cứ vắng dần. Họa hoằn cả buổi mới có khách ghé. Đến tận bây giờ nhiều bậc cao niên làng Lon vẫn rành rẽ chi tiết hồi ấy làm lụng ở mấy thửa gần quán, thi thoảng lại vọng ra chất giọng thanh thanh của chị Giáo “Con lỗi phép ông/ bà bát cháo nhé”. Ấy là nhà bác Giáo đang qua bữa bằng nồi cháo hoa ế khách.
Một thời gian sau quán đóng cửa. Cô con gái đầu lòng đặt tên là Hiền còn đỏ hỏn đã phải cùng gia đình bác Giáo dạt mãi lên mạn Kim Tân. Chỗ họ đậu lâu nhất là xã Thành Long, vùng đa số người Mường. Thày tôi thi thoảng vẫn từ làng Lon, cuốc bộ qua Dốc Cuội hơn chục cây số lên Thành Long thăm gia đình bác giáo. Rồi chuyện khắp làng cái tin hai vợ chồng bác giáo vẫn tham gia bình dân học vụ và thuế nông nghiệp lại được địa phương chia ruộng cày cấy. Nhưng vẫn chưa quen việc làm nông. Hẵng còn lóng ngóng lắm!
Lóng ngóng. Ấy là sau này nghe mẹ tôi cứ mỗi lần nhắc chuyện bác giáo lại chép miệng pha chút thở dài. Chuyện về những ngày gieo neo của người Hà Nội tản cư. Bác giáo, hai vợ chồng người cứ trắng như cái ngó cần. Chẳng hề biết chi cái việc cày bừa cấy hái mà cứ phải nhao ra đồng ra ruộng. Bác giai đánh cái áo ba túi lụng thụng. Một bên túi thường xuyên thõng xuống, không bỏng ngô thì ngô rang để nhấm nháp cho đỡ cơn đói. Xo xúi tất tả là thế mà cấm thấy hai vợ chồng gắt gỏng nặng lời. Có chuyện chi thì cả hai dùng tiếng Pháp với nhau nên bà con xóm giềng chịu không biết họ có chuyện gì !



