Khác

xã Phú Hữu (392)

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ĐỒNG CHÍ UNG VĂN KHIÊM BẢN LĨNH THÉP TRÊN DÒNG PHÙ SA

An Giang02/04/2026Xã Đoàn Phú Hữu (Xã Đoàn Phú Hữu)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA – ĐỒNG CHÍ UNG VĂN KHIÊM

BẢN LĨNH THÉP TRÊN DÒNG PHÙ SA

Người ta thường nói: ‘‘Vàng càng luyện càng trong, sắt càng rèn càng cứng’’. Câu nói ấy dường như được dành riêng để nói về cuộc đời của đồng chí Ung Văn Khiêm – người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc của vùng đất An Giang. Trong màn đêm u tối của ách thống trị thực dân trước năm 1945, khi nhiều người còn loay hoay tìm đường cứu nước, Ung Văn Khiêm đã sớm bắt gặp ánh sáng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin để rồi trở thành ‘ngọn đuốc’ dẫn đường cho nhân dân quê hương đứng lên phá tan xiềng xích.

Ngược dòng thời gian về năm 1910, tại vùng đất Cù lao Giêng (xã Tấn Mỹ, Chợ Mới, An Giang) – nơi dòng sông Tiền chia nhánh bồi đắp phù sa, cậu bé Ung Văn Khiêm đã cất tiếng khóc chào đời. Lớn lên giữa một gia đình trung nông có truyền thống hiếu học, tâm hồn ông sớm được tưới tẩm bởi những giá trị đạo đức truyền thống và nỗi đau mất nước.

Trong suốt những năm từ 1920 đến 1926, khi theo học tại trường Nam Tiểu học Long Xuyên, người thiếu niên ấy đã không đứng ngoài vòng xoáy thời đại. Hình ảnh những buổi bãi khóa của học sinh để tang cụ Phan Châu Trinh hay tiếng hô vang đòi thả cụ Phan Bội Châu đã gieo vào lòng ông những đốm lửa đầu tiên của tinh thần dân tộc. Để rồi đến năm 1927, khi đặt chân đến Sài Gòn hoa lệ nhưng đầy rẫy bất công để học trường Taberd, Ung Văn Khiêm đã chính thức bước vào con đường dấn thân, say mê tìm đọc những tờ báo tiến bộ của nhà trí thức Nguyễn An Ninh, nuôi dưỡng một tầm nhìn vượt ra khỏi lũy tre làng.

Bước ngoặt định mệnh đến vào năm 1928, chàng thanh niên 18 tuổi Ung Văn Khiêm chính thức gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đây là thời điểm ông bắt gặp “ánh sáng lý luận” như một chân lý cứu rỗi. Năm 1929, ông được cử sang Quảng Châu (Trung Quốc) dự lớp huấn luyện chính trị. Tại đây, ông được tôi luyện để trở thành một “hạt giống đỏ”, sẵn sàng gieo mầm cách mạng trên mảnh đất quê hương.

Ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, vào tháng 4/1930, tại chính mảnh đất Cù lao Giêng thân thuộc, Ung Văn Khiêm đã ghi tên mình vào lịch sử khi trực tiếp thành lập chi bộ Đảng đầu tiên của tỉnh An Giang. Thế nhưng, con đường cách mạng luôn song hành cùng bão tố. Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giam. Suốt từ năm 1932 đến 1935, ông bị đày ra “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Giữa xiềng xích và roi vọt, câu nói “Sắt càng rèn càng cứng” đã vận vào cuộc đời ông một cách trọn vẹn nhất. Ông không gục ngã mà cùng những người đồng chí như Tôn Đức Thắng biến nhà tù thành trường học, biến nỗi đau thành sức mạnh quật cường.

Năm 1936, nhờ phong trào Mặt trận Bình dân Pháp thắng lợi, ông được trả tự do nhưng vẫn bị quản thúc tại địa phương. Không một phút ngơi nghỉ, ông lao vào lãnh đạo phong trào “Đông Dương Đại hội”, khơi dậy lòng dân. Tuy nhiên, thực dân Pháp sớm trở mặt, năm 1939, khi Thế chiến II bùng nổ, ông lại bị bắt giam và lưu đày qua các trại tập trung khắc nghiệt tại Tà Lài và sau đó là đảo Poulo Obi (Cà Mau).

Mãi đến tháng 3/1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ông mới thoát khỏi cảnh tù đày. Với bản năng của một nhà lãnh đạo nhạy bén, ông nhanh chóng bắt liên lạc với Xứ ủy Nam Kỳ. Trong những ngày tháng 8/1945 sục sôi, với tư cách là Ủy viên Xứ ủy, Ung Văn Khiêm đã trực tiếp chỉ đạo cuộc Tổng khởi nghĩa tại Long Xuyên và Châu Đốc. Bằng uy tín và trí tuệ, ông đã dẫn dắt nhân dân vùng lên phá tan xiềng xích nô lệ, đưa ánh sáng độc lập về cho vùng đất An Giang vào ngày 25 và 26/8/1945.

Từ sau năm 1945, sự nghiệp của ông không còn bó hẹp trong phạm vi một tỉnh mà vươn tầm quốc gia. Năm 1951, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội II. Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ông đảm nhận những trọng trách lớn: Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (1961) và sau đó là Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1963).

Dù ở cương vị một chính khách lịch lãm trên trường quốc tế hay một người lãnh đạo bận rộn với quốc kế dân sinh, Ung Văn Khiêm vẫn giữ nguyên chất phác, chân thành của một người con Nam Bộ. Ông làm việc không mệt mỏi cho đến khi nghỉ hưu và trút hơi thở cuối cùng vào ngày 20/3/1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nhìn lại hành trình hơn 80 năm cuộc đời và hơn 60 năm hiến dâng trọn vẹn cho lý tưởng, đồng chí Ung Văn Khiêm đã tạc vào lịch sử dân tộc một bức chân dung tự đài về lòng trung kiên và trí tuệ. Từ một người thanh niên yêu nước của vùng Cù lao Giêng nhỏ bé, ông đã bước ra thế giới với tư thế của một nhà ngoại giao bản lĩnh, một vị Bộ trưởng tận tụy, nhưng trên hết vẫn là một người chiến sĩ cộng sản mang đậm khí chất hào sảng của phù sa sông Hậu.

Sắt đã rèn thành thép, và ngọn đuốc ấy chưa bao giờ tắt. Ngày nay, tên của ông không chỉ nằm lại trên những trang giáo khoa lịch sử hay những tấm biển tên đường khang trang tại Long Xuyên, Chợ Mới, mà còn sống mãi trong nhịp đập của thế hệ trẻ An Giang. Di sản mà ông để lại không chỉ là độc lập, tự do cho quê hương, mà còn là bài học vô giá về sự gắn bó máu thịt với nhân dân và tinh thần tự học, tự rèn luyện không ngừng nghỉ.

Giữa dòng chảy hối hả của thời đại mới, soi mình vào tấm gương của đồng chí Ung Văn Khiêm, chúng ta càng hiểu thêm giá trị của hai chữ “trung kiên”. Ông chính là minh chứng sống động nhất cho chân lý: Khi vận mệnh cá nhân hòa cùng vận mệnh dân tộc, con người ta sẽ trở nên bất tử. Những thế hệ hôm nay và mai sau sẽ tiếp nối ngọn lửa ấy, để vùng đất An Giang mãi rạng danh là quê hương của những bậc nhân sĩ vẹn toàn, như cách mà người con ưu tú Ung Văn Khiêm đã sống và cống hiến trọn cuộc đời mình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn