XÃ TÂN HỘI (207) - HOẠ SĨ, NHÀ BÁO LÊ TRUNG NGHĨA
Lê Trung Nghĩa (1905–1948), bút danh Việt Nam, là một họa sĩ, nhà báo Việt Nam, nổi tiếng với vụ án Nọc Nạng.
Lê Trung Nghĩa có quê nội ở Đa Kao, thành phố Sài Gòn (nay là một phần của Thành phố Hồ Chí Minh), quê ngoại ở làng Phong Thạnh, quận Giá Rai (Bạc Liêu). Cha là Thượng thư Lê Minh Điểu, làm quan nhà Nguyễn dưới hai triều Duy Tân và Khải Định, mẹ là Nguyễn Thị Hương.Dưới ông là em gái Lê Liễu Huê (Ái Lan), Lê Chuyên Pha (Lê Pha) và Lê Minh Đức (Bút Sơn).Sau khi hoàn thành học nghiệp ở Sài Gòn, ông về quê mẹ dạy học, nhưng vì ông dạy học sinh về ý thức dân tộc nên phát sinh xung đột với thanh tra học chánh người Pháp. Tức giận, ông bỏ nghề, mang các em lên Sài Gòn mở tiệm vẽ caricateur, ban đầu nhận vẽ tranh cho các tờ Le Courrier Indochinois và La Tribune Indochinoise, sau trực tiếp trở thành ký giả. Ông được xem là nhà báo của người nông dân nghèo, nổi tiếng với sự trung thực và có uy tín cao trong ngành.Năm 1928, ở làng Phong Thạnh xảy ra vụ án Nọc Nạng: Mảnh đất khai hoang của gia đình Biện Toại, Mười Chức bị địa chủ Hoa kiều Bang Tắc đã dùng nhiều thủ đoạn để đưa đất của Biện Toại vào giấy tờ đứng tên mình. Đến đầu năm 1928, xung đột đã leo thang thành án mạng và được đưa ra xét xử ở tòa Đại hình Cần Thơ.Theo Sơn Nam, do vụ việc xảy ra ở quê ngoại, nên Lê Trung Nghĩa hiểu rõ bản chất của vụ việc, sớm đi sâu vào điều tra, tìm hiểu và giúp đỡ nạn nhân.Ông là nhà báo đầu tiên đưa tin về sự kiện, cũng là người đã tìm hai luật sư người Pháp để họ bào chữa công tâm cho gia đình Biện Toại mà không lấy tiền.Mấy năm sau, ông lại lên bài tố cáo hành vi cướp đất của Đốc phủ sứ Lê Quang Liêm ở làng Thạnh Quới (Rạch Giá).Năm 1938, ông cùng các em mình xuất bản báo Phóng Sự. Năm 1939, tờ báo bị đình bản do chính sách đàn áp báo chí của chính quyền thực dân. Do hết tiền, ông cùng gia đình chuyển đến sống ở huyện Phong Điền (Thừa Thiên). Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông gia nhập Mặt trận Việt Minh, làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính xã Phong Nguyên, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Phong Điền.Năm 1947, Mặt trận Huế bị vỡ, Trung đoàn Trần Cao Vân rút về Phong Điền, ông đã cùng Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Chí Thanh, Chủ tịch tỉnh Hoàng Anh, Trung đoàn trưởng Hà Văn Lâu khảo sát xây dựng Chiến khu Hòa Mỹ. Ngày 30 tháng 3 năm 1948, quân Pháp đánh vào huyện Phong Điền, ông cùng cả gia đình bị quân Pháp bắt giữ và xử bắn, chỉ còn người con gái nuôi còn sống.Tên của ông được đặt cho một con đường ở quận Tân Bình cũ (Thành phố Hồ Chí Minh)



