XÃ TÂN HỘI (38) - Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ - nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam
Năm 1927, Nguyễn Văn Cừ lên Hà Nội học và thi đỗ vào trường Bưởi (nay là Trường Trung học Chu Văn An). Tại đây, Nguyễn Văn Cừ tham gia tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1928, đồng chí tham gia vào các phong trào vận động quần chúng đứng lên đấu tranh chống sự áp bức bóc lột của đế quốc và bè lũ tay sai. Vì những hoạt động này, Nguyễn Văn Cừ bị đuổi học giữa khóa.
Cuối năm 1928, Nguyễn Văn Cừ bí mật rời Bắc Ninh ra vùng mỏ Đông Bắc hoạt động, sống ba cùng với giai cấp công nhân (cùng ăn, cùng ở và cùng làm), trở thành người lãnh đạo cao nhất trong phong trào cách mạng vùng mỏ Đông Bắc của Tổ quốc, năm đó Nguyễn Văn Cừ mới 17 tuổi.
Tháng 6/1929, Nguyễn Văn Cừ trở thành đảng viên của Đông Dương Cộng sản Đảng, và được phân công phụ trách các chi bộ ở Cẩm Phả, Cửa Ông.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (tháng 2/1930), Nguyễn Văn Cừ được cử làm Bí thư đặc khu Hòn Gai-Uông Bí. Nguyễn Văn Cừ đã lãnh đạo phong trào cách mạng ở vùng mỏ phát triển mạnh mẽ.
Khi bị địch bắt, bị giam cầm, tra tấn tại nhà tù Côn Đảo, Nguyễn Văn Cừ cùng với các đồng chí của mình "biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng".
Nguyễn Văn Cừ đã thể hiện tư chất của một người cộng sản có tầm nhìn xa, có quyết tâm và nghị lực lớn, có khả năng phân tích, khái quát, nhận định chính xác các vấn đề trong nước và quốc tế; trở thành một tài năng chính trị kiệt xuất của Đảng ta.
Năm 1936, trước áp lực của các cuộc đấu tranh mạnh mẽ của Nhân dân ta và phong trào Mặt trận nhân dân Pháp, đồng chí Nguyễn Văn Cừ và một số tù chính trị Côn Đảo được trả tự do.
Sau khi được trả tự do, Nguyễn Văn Cừ đã liên lạc với Đảng, khôi phục cơ sở đảng, nuôi dưỡng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng và đã thành công trong việc lập lại Xứ ủy Bắc Kỳ. Tài năng tổ chức và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của đồng chí đã góp phần củng cố công tác tổ chức của Đảng và đưa các hoạt động của Đảng theo kịp sự phát triển của phong trào cách mạng, sửa đổi phương pháp tổ chức và lề lối làm việc của thời kỳ hoạt động bí mật cho phù hợp với tình hình mới.
Với phẩm chất, trí tuệ và tài năng tổ chức và chỉ đạo thực tiễn của Nguyễn Văn Cừ, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (tháng 9/1937), đồng chí được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Chỉ hơn sáu tháng sau, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương (tháng 3/1938), Nguyễn Văn Cừ được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Là nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng trong một giai đoạn vô cùng phức tạp và gian khó, Nguyễn Văn Cừ đã có những đóng góp quyết định trong việc vạch ra chiến thuật và chiến lược của cách mạng Việt Nam, để đưa phong trào đấu tranh của dân tộc lên một tầm cao mới vào những năm sau đó.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã chỉ đạo thay đổi chiến lược cách mạng, tạo ra bước ngoặt quan trọng - giai đoạn cách mạng những năm 1938-1942, giai đoạn cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.
Đầu tháng 4/1938, nhận thấy tình hình quốc tế đang có những chuyển biến bất lợi cho cách mạng, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã đặt vấn đề chuyển hướng chiến lược của Đảng. Trong một loạt bài viết đăng trên báo Dân chúng, đồng chí đã phân tích tình hình, vạch rõ nguy cơ chiến tranh phát xít ở châu Á và Đông Dương, kêu gọi nhân dân đấu tranh mạnh mẽ hơn nữa chống chiến tranh phát xít. Chuẩn bị để Đảng rút vào hoạt động bí mật, chủ động ứng phó với tình hình diễn biến mau lẹ, đồng chí đã cho phát hành cuốn Công tác bí mật của Đảng, gửi đến đảng bộ các cấp.
Đầu tháng 9/1939, Nguyễn Văn Cừ triệu tập và chủ trì Hội nghị mở rộng Xứ ủy Bắc Kỳ, phổ biến tình hình và quyết định rút số cán bộ hoạt động công khai vào hoạt động bí mật, phân công một số đồng chí cán bộ Xứ ủy và Thành ủy Hà Nội đi xây dựng căn cứ ở những địa bàn chiến lược, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vũ trang khi có điều kiện.
Ngày 6/11/1939, hai tháng sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp tăng cường khủng bố cách mạng nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định. Hội nghị vạch ra đường lối chính trị của cách mạng trong tình hình mới; chủ trương tập trung mọi lực lượng vào nhiệm vụ chủ yếu là chống đế quốc và ách thống trị phát xít thuộc địa, xác định giải phóng dân tộc khỏi ách đế quốc là nhiệm vụ cấp bách nhất và là mục tiêu trước mắt của cách mạng Việt Nam. Đồng thời, quyết định thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương. Phương pháp cách mạng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp và nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và không hợp pháp, chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tiến tới khởi nghĩa vũ trang.
Do có chủ trương chuyển hướng chiến lược đúng đắn và sự chỉ đạo kịp thời mà phong trào cách mạng Việt Nam tiếp tục phát triển, lực lượng cách mạng tránh được tổn thất khi kẻ thù trở mặt đàn áp, khủng bố.
Tháng 6 năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với một số đảng viên khác. Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, thực dân Pháp ghép ông vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình. Ngày 28 tháng 8 năm 1941, bản án được thi hành cùng lúc với một số đảng viên cộng sản khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu... tại trường bắn Hóc Môn.
Đồng chí Nguyễn Văn Cừ là một người cộng sản kiên trung, mẫu mực, nhà chính trị có bản lĩnh, luôn kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, nhà chỉ đạo chiến lược và sách lược tài tình, một tấm gương sáng về tinh thần tự phê bình và phê bình, giữ gìn kỷ luật và sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam.


