Bài viết

Xạ thủ huyền thoại của bức tường lửa Quảng Trị

Quảng Trị06/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh sinh ra ở một ngôi làng nhỏ nằm bên bờ Nam của dòng sông Bến Hải, có tên là Hải Chữ, thuộc xã Trung Hải, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Tuổi thơ của anh là những năm tháng nghèo khó, cơ cực. Mẹ anh một mình tần tảo với ruộng vườn để nuôi đàn con 6 đứa. Cha anh theo truyền thống gia đình đi làm cách mạng để đánh Tây bảo vệ xóm làng. Có giai đoạn trong chống Pháp, cha anh là Trung đội trưởng lực lượng du kích của xã Trung Hải. Chú ruột anh trong thời kỳ chống Pháp cũng là một du kích quân gan dạ, mưu trí đã bị lính Pháp phục kích bắt được, rồi chúng đã đưa ông về làng Hải Chữ để hành quyết bằng hình thức chặt đầu để khủng bố tinh thần đối với những người theo cách mạng… 14 tuổi, Trương Đức Hai đã năn nỉ xin các bác, các chú du kích trong làng đi theo cách mạng, nhưng thấy anh còn nhỏ tuổi nên họ chưa đồng ý cho theo. 16 tuổi, anh được các bác chỉ huy lực lượng vũ trang của xã Trung Hải gật đầu cho đi theo để làm du kích. Chỉ sau 2 ngày được huấn luyện, anh đã có thể tháo lắp súng một cách thành thục, được những người đi trước hết sức ngợi khen. Chỉ sau hơn một năm trong quân ngũ, từ chàng thanh niên mới lớn, Trương Đức Hai đã được cấp trên và đồng đội tin tưởng giao phó chức vụ trung đội trưởng, xã đội phó, rồi đảm trách chức vụ xã đội trưởng khi mới tròn 19 tuổi

Hồi ấy là mùa hè của năm 1967, thời điểm mà quân đội Sài Gòn tăng cường quân số ra vùng chiến sự trọng điểm Gio Linh. Anh được giao nhiệm vụ chỉ huy các cánh quân du kích để đánh phản công cầm chân hướng hành quân của Trung đoàn 2 ngụy từ hướng quân cảng Cửa Việt lên mạn phía tây. Những ngày đối đầu không cân sức ấy, Trương Đức Hai với khẩu súng CKC của mình đã cùng với đồng đội dũng cảm, mưu trí tiêu diệt rất nhiều tên địch trong đó có 2 viên sĩ quan chỉ huy. Gặp phải sự truy cản của ta, địch càng dốc quân vào vùng đất Gio Linh - Quảng Trị. Chính quyền Sài Gòn với sự giúp sức của quân đội Hoa Kỳ đã cho dựng trên mảnh đất này một hệ thống hàng rào điện tử McNamara, để mưu cầu thành công hơn trong kế hoạch “tát nước bắt cá” và hơn thế nữa là để chặn đứng hướng hành quân tiếp viện vào chiến trường miền Nam từ hậu phương miền Bắc. Trong tình thế căng thẳng ấy, Trương Đức Hai được cấp trên điều động vào làm công tác chỉ huy lực lượng du kích ở địa bàn xã Gio Mỹ, một địa bàn quan trọng được xem như yết hầu của mặt trận Gio Linh. Với khoảng gần 150 chiến sĩ trong tay, anh đã cùng đồng đội của mình phối hợp rất nhịp nhàng với bộ đội chủ lực của ta triển khai việc bao vây bất ngờ, bắn tỉa địch để giảm trừ quân số địch. Những ngày ác liệt ấy, anh đã bị trọng thương do trúng đạn của quân thù, đồng đội đã đưa anh ra vùng an toàn để điều trị, phải mất một thời gian dài anh mới trở lại chỉ huy đánh địch ở địa bàn Gio Mỹ…

Đến đầu năm 1972, xã Gio Sơn của huyện Gio Linh trở thành mặt trận nóng bỏng nhất trong vùng. Một lần nữa, Trương Đức Hai được lãnh đạo mặt trận Gio Linh cử đến vùng đất lửa. Anh đã đề nghị với lãnh đạo cấp trên cho anh được chỉ huy một trận đánh lớn để hy vọng lấy lại thế kiểm soát, vì nếu cứ nằm im sẽ bị địch giành đất và dần dần sẽ đẩy lực lượng của mình ra khỏi địa bàn xã Gio Sơn. Sau khi nghiên cứu, xem xét đề nghị của anh, Tỉnh ủy Quảng Trị đã chuẩn y và điều thêm đơn vị bộ đội C4 địa phương về phối hợp với du kích Gio Sơn thực hiện nhiệm vụ. Trận đánh úp vào căn cứ Quán Ngang đã được các anh thực hiện một cách trọn vẹn. Địch bị tổn thất nặng nề nên đành tháo chạy, nhân dân Gio Sơn được quân giải phóng đón trở lại làng. Trận Quán Ngang oai hùng ấy cũng đã trở thành ngòi nổ đầu tiên cho chiến dịch tổng tiến công mùa xuân năm 1972 trên toàn chiến trường Quảng Trị.

Sau khi Quảng Trị được giải phóng, anh trở thành cán bộ chủ chốt của xã Gio Sơn để cùng với nhân dân xây dựng lại cuộc sống mới sau những năm tháng chiến tranh tàn phá. Sau năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, anh được lãnh đạo cho đi học chính trị, rồi về làm cán bộ quản lý cấp phường ở thị xã Đông Hà. Ở tuổi 30, anh nên duyên cùng với một o du kích của xã Gio Mỹ. Cuộc sống những năm sau chiến tranh vô cùng khốn khó. Vợ chồng anh lần lượt sinh được 4 người con (3 gái, 1 trai). Khi thằng út mới tập nói bi bô thì vợ anh ngã bệnh. Căn bệnh ung thư quái ác đã hành hạ chị suốt 13 năm trời. 13 năm ấy, anh một mình vừa cáng đáng chuyện chăm sóc vợ bệnh tật, vừa phải chăm sóc nuôi dạy các con. Căn nhà tập thể anh chị được cho ở nhờ có lúc đã bị người ta đòi lại. Vợ bệnh, con thơ, anh phải bầu đoàn lang thang đi ở nhà người thân, bè bạn. Rồi cũng may, có một người đã từng cùng anh chiến đấu, sau này trở thành lãnh đạo ở địa phương đã can thiệp cho anh được quyền hóa giá một căn nhà tập thể. Nhưng lúc ấy, sau nhiều chuyến đưa vợ đi tìm thầy chữa bệnh ở ngoài Bắc, trong Nam, gia cảnh của anh túng bấn trăm bề nên không còn tiền để mua nhà hóa giá mà anh lại phải viết đơn xin được ở nhờ… Từ bấy đến nay, anh vẫn đi bên cạnh cuộc đời với tính cách của một con người bình dị. Người ta có thể gặp anh nơi quán cóc, bên góc chợ hay với chiếc xe máy cà tàng tất bật ngược xuôi…

Nay thì cuộc sống của anh đã từng ngày thay đổi, các con anh đã lớn, cô chị cả nay đã là thạc sĩ, giảng dạy ở Trường Nông nghiệp của tỉnh Quảng Trị; cô kế làm nghề thống kê; cô thứ ba là cán bộ đang công tác tại Công an huyện Gio Linh và cậu út đang theo học ngành Quản lý môi trường. Chia tay tôi, anh tâm sự: Hôm nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, mình có được thưởng một khoản tiền, số tiền ấy mình đã cùng với một số anh em thực hiện việc xây dựng một tấm bia tưởng niệm ở Quán Ngang. Ước chi tấm bia ấy ngày một khang trang thêm vì anh em ngày xưa hy sinh ở đó rất nhiều. Chiến tranh mà, mình còn sống đến hôm nay là vì mình may mắn hơn nhiều đồng đội, mình phải nhớ và phải biết tri ân…

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn