Bài viết

Xác tàu chiến Pháp và ký ức của người Cựu chiến binh Sông Lô

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Xác tàu chiến Pháp và ký ức của người Cựu chiến binh Sông LôVào một ngày rét đậm cuối năm 2014, Bảo tàng Quân khu 2 vinh dự tiếp đón Cựu chiến binh Phan Văn Đức, người từng tham gia trận phục kích quân Pháp trên Sông Lô năm 1947 và may mắn được ông kể lại trận đánh lịch sử gắn với hiện vật xác tàu chiến Pháp đang trưng bày tại Bảo tàng.

Cựu chiến binh Phan Văn Đức sinh năm 1928, nhập ngũ năm 1946 và làm liên lạc cho Trung đội pháo binh ở pháo đài Xuân Canh (Hà Nội), một trong những đơn vị đầu tiên nổ súng sau hiệu lệnh “Toàn quốc kháng chiến”. Sau khi rút lên chiến khu, ông trở thành pháo thủ. Tháng 10 năm 1947, ông chiến đấu ở Sông Lô, đến năm 1948, tham gia trận Nghĩa Lộ và được kết nạp vào Đảng. Năm 1950, tham gia chiến dịch Biên Giới ở Thất Khê (Cao Bằng). Năm 1952, ông được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân ở Trung Quốc, sau đó về giảng dạy tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn. Năm 1965, ông vào miền Nam làm phái viên chiến trường. Tháng 10/1967, ông ra Bắc tiếp tục công tác tại Trường cho đến năm 1980, ông nghỉ hưu với quân hàm Thượng tá. Thời gian làm mái tóc ông bạc trắng, nhưng khí chất của người lính “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn còn nguyên trong ông. Đứng trước xác tàu chiến Pháp trong trận Sông Lô năm 1947, ông bồi hồi: “Ngày 11/10/1947, đoàn tàu chiến của Pháp ngược dòng Sông Lô đến khu vực huyện lỵ Đoan Hùng, pháo của ta đã bắn mấy phát nhưng không trúng. Đêm đó cả đơn vị chúng tôi không ai chợp mắt nổi vì chưa tìm ra cách bắn trúng tàu Pháp”. Hôm sau có tin quân Pháp tổ chức một đoàn tàu chiến xuôi dòng Sông Lô qua Đoan Hùng về Hà Nội. Mục đích của địch là vừa xin tăng viện, vừa đánh một trận tiêu diệt lớn khi gặp quân ta phục kích, rửa hận cho thảm bại ở Khoan Bộ và Bình Ca, Km 7 Tuyên Quang… Do vậy chúng sử dụng một lực lượng rất mạnh, về tàu chiến có 2 chiếc LCT, 2 chiếc LCVP, 1 chiếc LCM cùng hơn 300 quân được tăng cường cối 81 ly, 60 ly và trọng liên 12,7 ly. “Chúng tôi được phân công phối hợp với các lực lượng khác, tổ chức phục kích địch trên Sông Lô nhằm đánh tiêu hao, tiêu diệt quân địch, góp phần làm thất bại cuộc tiến công của quân Pháp” – ông nói. Cả đơn vị họp bàn cách đánh địch, nhiều phương án được đưa ra. Có đồng chí đề nghị dùng pháo bắn uy hiếp làm địch hoang mang, tạo điều kiện cho các lực lượng khác tiêu diệt địch. Có phương án là đưa pháo ra đặt sát bờ sông, chờ tàu địch đến thật gần ngắm bắn trực tiếp qua nòng. Phương án này nghe hợp lý, nhưng địch có thể dùng bộ binh tràn lên bờ cướp hoặc phá hủy pháo ta… Nỗi băn khoăn đã có câu trả lời! Chất giọng khỏe khoắn, ông nói: “Trong những ngày đầu kháng chiến toàn quốc bùng nổ, tại thủ đô Hà Nội các chiến sỹ cảm tử quân của ta dám ôm bom ba càng lao vào diệt xe tăng, xe bọc thép địch. Ở đây đơn vị pháo sao không làm được! Khi tàu địch vào thật gần, ta bắn trúng, đạn pháo xuyên thủng khiến tàu bị chìm, đồng thời thành lập đội cảm tử để bảo vệ pháo, đào hầm, xây dựng vật chướng ngại, ngụy trang pháo thật kỹ... như vậy sẽ chắc thắng!”. Tàu quân Pháp bị đánh chìm trên Sông Lô, năm 1947 - Ảnh Tư liệu Bảo tàng LSQS Việt Nam. Phương án tác chiến được thông qua, toàn đơn vị cùng dân quân địa phương tích cực chuẩn bị. 9 km đường hào dọc bờ sông, hầm cho pháo, hố bắn cá nhân, hầm trú ẩn được đào và ngụy trang khéo léo, các trận địa nghi binh được xây dựng hoàn chỉnh, sẵn sàng đánh địch. Trời Đoan Hùng đêm ấy se lạnh, làn gió nhẹ thổi từ mặt sông vào bờ làm bụi lau xào xạc. Chỉ huy trận đánh là đồng chí Doãn Tuế, Sở chỉ huy trận đánh được đặt trên đồi nhỏ thuộc làng Ngọc Chúc, cách không xa trận địa phục kích. Sáng 24 tháng 10 năm 1947, thời gian trôi qua lặng lẽ, 7 giờ, 8 giờ, rồi 9 giờ… dòng nước sông Lô vẫn êm đềm chảy. 11 giờ 45 phút, bộ đội ta chờ quá lâu, đồng chí Chỉ huy ra lệnh bộ đội ăn cơm ngay tại trận địa. Ông nhớ lại: “Cơm nắm ăn với muối vừng, lại có thêm miếng thịt lợn kho do bàn tay người dân Đoan Hùng chuẩn bị. Cơm ăn đang ngon miệng thì bỗng thấy trên trời 6 chiếc máy bay địch ầm ầm bay tới. Cùng lúc này Ban Chỉ huy trận đánh cũng nhận được tin tàu địch cách trận địa ta 3 km. Lệnh chuẩn bị chiến đấu được phát ra, tất cả vào vị trí sẵn sàng”. Một chiếc máy bay bay sát mặt sông, đến phủ lỵ Đoan Hùng, vòng lượn ngó nghiêng, tiếp theo bốn chiếc khu trục cũng tham gia quần lượn. Sau một hồi không phát hiện được gì, địch bắn vu vơ vài loạt đạn trọng liên rồi bay về phía Nam. Trên sông, một chiếc thuỷ phi cơ bay từ từ bảo vệ cho năm chiếc tàu xuôi dòng nước, tiếng sóng vỗ mạnh vào bờ nghe như những tiếng kêu uất hận. Chiếc đi đầu vừa đi, vừa thăm dò mặt nước, hai chiếc sau đi song hành, một sơn xanh, một sơn màu xám. Đi sau cùng là chiếc loại nhẹ. Cả năm chiếc tàu chở trên 300 tên hùng hổ tiến vào trận địa phục kích của ta. Chiếc tàu thứ nhất kiểu LCM lọt vào tầm ngắm của khẩu 75 ly cao xạ, nhiều chiến sỹ muốn bắn ngay nhưng phải nén lòng chờ tàu địch đến gần hơn nữa. Nghĩa trang quan Pháp ở Sông Lô năm 1947 - Ảnh Tư liệu Bảo tàng LSQS Việt Nam. Ông tiếp lời: “800m, 600m rồi 300m, lệnh bắn được phát ra, 3 viên đạn pháo của ta nổ trùm lên con tàu. Viên thứ 4 trúng giữa tàu khiến cho nó quay ngang và chìm ngay tại chỗ, dìm tất cả bọn giặc ở trên tàu xuống sông, tiếng reo hò chiến thắng, tiếng trống, chiêng, thanh la, kẻng… vang lên khắp mọi nơi”. Bị đánh bất ngờ ngay từ phút đầu, địch vô cùng hốt hoảng. Thấy đồng bọn dưới sông bị đánh, 3 chiếc máy bay khu trục và 1 chiếc máy bay “bà già” bay trở lại tiếp ứng. Chiếc Michel bay lượn trên trận địa phục kích của ta, chúng ném bom, bắn phá dữ dội hòng cứu nguy cho đồng bọn. Song hầu hết bom đạn của địch đều đánh vào các trận địa nghi binh ở hai bên bờ sông. Các pháo thủ bình tĩnh ngắm bắn vào chiếc tàu thứ hai, sau 6 phát đạn liên tiếp, có 1 viên trúng buồng chứa đạn nổ rung chuyển cả trận địa, tiếp theo là những tiếng lốp bốp của các loại đạn cỡ nhỏ kèm theo những tiếng nổ to đanh của đạn cối. Chất giọng sang sảng, ông kể: “Xăng trên tàu bén lửa bốc cháy, xăng loang ra mặt khắp sông, vết loang đến đâu, ngọn lửa cháy đến đó, cả một khúc sông thành biển lửa. Máu giặc nhuộm đỏ nước sông quyện vào xăng đang bốc cháy, khói bốc lên mùi khét lẹt”. Quân Pháp ở ba chiếc tàu còn lại nhốn nháo trên boong, dùng súng cối, trung liên bắn trả lại quân ta một cách yếu ớt. Trong lúc hỗn loạn, chiếc tàu đi sau cùng hoảng sợ quay đầu chạy ngược lên phía Tuyên Quang. Trên trời máy bay địch vẫn tiếp tục điên cuồng đánh phá vào những nơi nghi có quân ta. Hỏa lực của ta dồn vào chiếc thứ ba khi nó đang cố thoát khỏi lưới lửa chạy về xuôi, bỏ mặc hàng trăm tên giặc đang ngoi ngóp dưới sông. Một viên đạn pháo trúng máy tàu, làm cho máy nổ tắt lịm, tàu trôi bồng bềnh trên sông. Bọn địch trên tàu hốt hoảng nhảy bừa xuống sông bơi vào bờ Hữu Đô. Các chiến sỹ nghe kể về trận Sông Lô bên cạnh xác tàu chiến Pháp bị quân và dân ta bắn chìm, ngày 24/10/1947. Hỏa lực các loại của ta bắn theo dữ dội, nhiều tên trúng đạn chìm nghỉm, tên bị thương chới với kêu khóc. Chiếc tàu thứ 4 còn lại lợi dụng khói lửa đang thục mạng chạy về xuôi thì bị trúng cao xạ vào bánh lái khiến phần đuôi tàu bẹp rúm, đầu tàu đâm ngang cả vào mũi pháo của ta. Bốn viên đạn pháo nữa liên tiếp trúng tàu địch, song cả 4 viên này đều bị ẩm, không nổ. Lợi dụng thời cơ, chiếc tàu thứ ba và thứ tư dạt vào làng Hữu Đô, chúng đổ quân và dùng khẩu 12,7 ly tại chỗ bắn thẳng sang trận địa của ta. Cùng lúc, máy bay địch phát hiện được trận địa thật của ta, sà xuống bắn phá dữ dội hòng để những tên khác rút chạy. Lúc này trời đã bắt đầu tối, đến 19 giờ cùng ngày, trận đánh kết thúc. Quân ta đại thắng, tiếng reo hò vang dội khắp đồi núi Đoan Hùng, tin thắng trận được truyền đi mọi nơi. Kết quả, hai chiếc tàu địch bị bắn chìm tại chỗ, hai chiếc khác và một máy bay bị thương nặng, gần ba trăm địch bị tiêu diệt, trong đó có một tên sĩ quan cao cấp của quân Pháp. Chiến thắng sông Lô tại Đoan Hùng đã làm nức lòng quân dân cả nước, bằng cách ngắm trực tiếp, bí mật bất ngờ bố trí trận địa sát bờ sông, kết hợp nghi binh. Trận đánh góp phần bẻ gãy gọng kìm phía Tây trong cuộc bao vây tiến công Việt Bắc của thực dân Pháp. Giặc Pháp phải gọi thất bại này là: “Thảm họa Đoan Hùng”. Cũng từ đó những khẩu pháo của ta được nhân dân gọi với tên trìu mến là “Voi”, trung đội pháo được gọi là “Trung đội Voi gầm”, đồng chí chỉ huy đơn vị pháo được tặng danh hiệu đồng chí “Voi gầm” và lưu truyền bài thơ: Đoan Hùng nhớ mãi ai ơi Tài anh Vệ quốc, sức người dân quân Sông Lô lửa trận ầm ầm Giặc Tây gặp đội “Voi gầm” thì tan./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn