XÂY DỰNG CÁC TỔ CHỨC ĐẢM BẢO CHỈ HUY VÀ TÁC CHIẾN
Đối với hoạt động xây dựng lực lượng, tổ chức đánh địch ở địa bàn nội thành, công tác giao liên giữ vai trò rất quan trọng. Đường dây liên lạc của Tự vệ Thành được tổ chức bí mật và giống như "mạng nhện". Có các đường dây lên xuống giữa tiểu đội và trung đội (khu và đội tự vệ), giữa các trung đội với Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ. Có các trạm giao liên đặt trong các chợ, trong các cửa hàng buôn bán mà liên lạc viên là người đứng bán hàng. Mạng lưới giao liên của Tự vệ Thành chủ yếu là phụ nữ và thi
| Ban chỉ Thành bộ Tự vệ còn tổ chức riêng những đường giao liên giữa ngoại thành vào nội thành và ngược lại, móc nối tại các trạm khác nhau đặt ở các vùng ven đô khác nhau, đi và về trên những đường khác nhau. Tổ chức giao liên Tự vệ Thành phát triển thành một mạng lưới giao liên dày đặc, tổ chức khoa học, bí mật, hoạt động cả ngày lẫn đêm mà địch khó phát hiện. Địch cũng biết ta có tổ chức giao liên nên chúng ra sức tìm cách đánh phá, chặt đứt đường dây, vô hiệu hóa hệ thống chỉ huy. Do kinh nghiệm thực tế, ta luôn luôn có những đường dây "hiện hành" và đường dây "dự bị" để liên lạc không bị gián đoạn. Khi có hiện tượng một đường dây giao liên bị địch phát hiện, ta kịp thời chuyển sang hoạt động ở đường dây khác. Để làm được điều đó, vai trò các cơ sở quần chúng cách mạng lại nổi lên là những trợ thủ đắc lực. Khi một đường dây bị đứt, đơn vị thường "nhờ" cơ sở quần chúng "nối" lại, hoặc tổ chức đường dây mới. Để đảm bảo cho các đội viên giao liên khi trở về nội thành được bảo vệ tốt. Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ tổ chức một số trạm chuyển tiếp cho anh chị em liên lạc ở ngoại thành về nội thành có nơi tạm dừng chân để thay quần áo, nắm tình hình nơi cơ sở chính của mình, đề phòng cơ sở đó đã bị vỡ. Đó là các trạm của bà Nguyễn Thị Phương (còn gọi là Má Nguyệt) ở đường Mông-xô (Monceau) - đường Huỳnh Tịnh Của bây giơ. Trạm của bà Vũ Thị Tiếu ở Bà Chiểu, trạm của bà Trần Thị Chữ ở Đa Kao, trạm của chị Phạm Thị Hiền ở đường Pôn - Blăng-xi (Paul Blanchy) nay là đường Hai Bà Trưng, gần cầu Kiệu. Các trạm này đều là nơi cất giấu tài liệu, vũ khí và giúp đỡ nhân viên giao liên ăn, ở. Chị em liên lạc ở căn cứ về nội thành trước tiên đều ghé các trạm này thay trang phục cho phù hợp với người thành phố. Cần tiền đi xe, chị em được trạm cung cấp giúp đỡ. Khi Ban chỉ huy Tự vệ Thành thiết lập căn cứ ở ngoại thành thì vấn đề giao liên giữa ngoại và nội thành của riêng Ban chỉ huy trở thành vấn đề hàng đầu trong tổ chức bảo đảm. Từ ấp 4, ấp 8 xã Vĩnh Lộc, hay Vườn Thơm, huyện Trung Huyện, cách trung tâm thành phố từ 10 đến 15 ki-lô-mét và cách Chợ Lớn từ 4 đến 5 ki-lô-mét, đường giao liên được tổ chức thông suốt. Hệ thống đường giao liên nội - ngoại thành gồm mấy "trục" chính sau: Đường từ Vườn Thơm - Bàu Cò, vượt qua tỉnh lộ 10 (Sài Gòn đi Đức Hòa), qua cầu Tham Lương đổ về Bà Quẹo (địch đóng đồn ở đây), xuống ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình ngày nay). Đường này, nhân viên giao liên có thể dùng xe thổ mộ mà anh em đánh xe là người thuộc lực lượng Tự vệ Thành, hoặc ta giác ngộ tổ chức. Họ phần lớn là người ở Hóc Môn, Bà Điểm. Đây là lực lượng vừa bảo vệ giao liên, vừa chuyên chở hàng quân nhu, súng, đạn cho ta khá an toàn. Đường xuất phát từ Tham Lương vào phía nam sân bay Tân Sơn Nhất đổ về Phú Nhuận. Có khi, từ Tham Lương, giao liên phải đi lên phía bắc sân bay, vòng về Gò Vấp để đi xuống Phú Nhuận hay Bà Chiểu. Trên đường này có bốt P.S.E (công an đặc biệt miền Đông) đóng trấn ở Tân Sơn Nhất và bốt Hàng Sanh (nằm ngay ngã ba Hàng Sanh, cuối đường Bạch Đằng nối với đường Xô Viết - Nghệ Tĩnh), một bốt chuyên hứng đón bắt liên lạc của ta từ căn cứ về Phú Nhuận, Gò Vấp, Bà Chiểu. Địch ở bốt này nổi tiếng tàn ác. Đường từ Bầu Cò vượt tỉnh lộ 10, qua Gò Cát (xã Bình Hưng Hòa) đi vào Chợ Lớn bằng các ngã: hoặc qua Nhị Tỳ, Quảng Đông đi về chợ Thiếc, hoặc qua Cống Bế, Cầu Tre để vào Chợ Lớn. Hai con đường này liên lạc có thể đi luồn trong xóm, tránh các bốt địch, nhưng hay bị địch phục kích. Đường từ Bầu Cò ra Tân Bửu, Chạ Đệm, Tân Kiên (phía Bình Chánh) lên xe thổ mộ hay xe đò qua Phú Lâm (địch đóng bốt ở đây) về Chợ Lớn. Trên các đường này, nguy hiểm nhất là các bốt ác ôn ở Bà Quẹo, Hàng Sanh, Pô Lô, Phú Lâm - những bốt cửa ngõ vào thành phố. Tại các điểm Tham Lương, Gò Cát, Công Bê, Tân Kiên, trưởng ban liên lạc đã bố trí các trạm chuyển tiếp đặt tại nhà dân. Chị em liên lạc đến đó giao hoặc nhận "hàng" rồi trở về thành phố ngay, ít khi ở lại trạm. Nếu có địch, thì cơ sở tại địa phương đặt ám hiệu "có địch" cho liên lạc viên biết từ xa. Nếu có dấu hiệu địch phục kích, thì hoặc giao liên tìm nhà dân gần đó tạm nghỉ chờ tín hiệu "bình yên" mới đến trạm hoặc trở về thành phố ngay để hôm sau trở lại. Các nhân viên giao liên cũng không được biết mặt nhau, có quy định giờ đến trạm khác nhau. Tất cả các biện pháp này nhằm đảm bảo tránh địch phát hiện ra trạm liên lạc và các liên lạc viên... Chị em giao liên, những phụ nữ thành phố vốn "chân yếu tay mền" nhưng vẫn thường xuyên đi bộ liên tục hàng giờ, băng đồng, vượt trảng, giữa trời nắng gắt, hoặc những cơn mưa rào bất chợt... Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ đặt tên cho đội liên lạc của mình là đội Mê Linh. Đội trưởng là đồng chí Đoàn Thị Hoàng Mỹ, bí danh Nguyễn Thị Thuận (tức Mười Thuận). Là đảng viên, đồng chí Mười Thuận đã phát huy khả năng tổ chức đường dây liên lạc, tự mình đi nghiên cứu điểm đặt trạm, bố trí chị em giữ trạm, luôn đi động viên chị em và kiểm tra các trạm khi bình thường, cũng như khi bị địch phát hiện vây ráp. Khi làm nhiệm vụ truyền tin, chị em giao liên phần lớn đi bộ tự nhiên như nông dân đi chợ về, chỉ dùng xe khi cần thiết, đi bộ có điều kiện chủ động tránh địch. Thành tích của chị em là những chiến công thầm lặng, không chỉ đưa tin tức, chuyển công văn, mệnh lệnh mà còn đảm nhận cả việc vận chuyển quân trang, lương thực, thực phẩm do đồng bào nội thành ủng hộ cho anh em chiến sĩ ngoài căn cứ. Trong chiến dịch vận động đồng bào nội thành hưởng ứng "Tuần lễ đồng" ủng hộ Tự vệ Thành để chuyển cho chi đội 10. Trên những chặng đường nối liền nội - ngoại thành, bằng đôi vai và bằng dáng vóc mảnh mai của mình, chị em vận chuyển được một khối lượng lớn đồng từ nội thành ra căn cứ để sản xuất vũ khí. Gian nan và hiểm nguy nhất là việc vận chuyển vũ khí từ ngoại thành về nội thành. Để phục vụ trận đánh của Tự vệ Thành đêm 22 tháng 12 năm 1946, các chị Võ Thị Nga, Quảng Thị Mùi (tức Nguyệt), Dư Thị Lắm (tức Nguyễn Thị Hạnh) đã ba lần đi gánh lựu đạn Võ Thành Phát, mỗi lần 20 trái từ căn cứ của bộ đội Bình Xuyên ở bên kia cầu chữ Y và Phú Xuân, Nhà Bè về thành phố giao cho cơ sở là anh Bảy Hải (làm bồi cho nhà Tây) ở đường Năng Xy (Trần Hưng Đạo). Từ địa chỉ này lựu đạn được các giao liên khác chuyển đến các đơn vị theo danh sách phân phối. Việc gánh lựu đạn từ khu Bình Xuyên về nội thành phải qua nhiều chặng đường địch thường bố phòng, vây ráp, qua cầu Hiệp An và tiếp tục thay nhau gánh qua cầu Xóm Củi để đưa về Năng Xy. Khi Tự vệ Thành chủ trương rút súng đạn và người từ thành phố ra căn cứ xây dựng lực lượng vũ trang tập trung (tiểu đoàn Hoàng Văn Thụ), các chị Dư Thị Lắm, Lã Thị Chuyên đã chuyên chở nhiều chuyến súng, mỗi chuyến từ ba đến năm khẩu, từ nội thành ra căn cứ. Các chị đã giấu súng trên xe thổ mộ có hai lớp ván sàn, nên qua đồn bốt được an toàn. Về đạn, các chị đã bỏ vào các hũ nước mắm, gắn miệng như hũ nước mắm mới. Các chị em liên lạc khác như các chị Lê Thị Nghiêm, Lê Thị Ngọc Hoa, Nguyễn Thị Tâm (tức Tư Xung Phong), Lê Thị Sáu1 (Chị Lê Thị Sáu là người lập được nhiều chiến công trong ngành tình báo ở thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Chị được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân) (tức Chín Biếc) xuất thân là nông dân, được đào tạo thành liên lạc viên ra vào thành phố, Nguyễn Thị Sự (Ma Thị Nhen), Trần Thị Hai (Năm Lộc) đều là những chị em đạt nhiều thành tích trong hoạt động giao liên và phục vụ Tự vệ Thành chiến đấu. Ban chỉ huy Thành bộ Tự vệ còn xây dựng một trung đội thiếu niên làm liên lạc với tên gọi là đội Tiểu Quỷ. Các em phần lớn từ 11 tuổi đến 14 tuổi, nhỏ nhất là em Lê Quang Sáng 11 tuổi. Các em đều thông minh gan dạ và đặc biệt rất trung thành với tổ chức. Có em khi bị địch bắt, mặc dù chúng tra tấn dã mam vẫn không khai cơ sở. Ban chỉ huy giao cho đồng chí Trần Bá Hào huấn luyện và phụ trách trung đội này. Mỗi em được phân công liên lạc với một khu hay đội tự vệ nội thành. Một điển hình sống động nhất trong đội Tiểu Quỷ là em Lê Quang Sáng nhỏ tuổi nhất, dễ thương và dũng cảm. Nhiều lần mang thư từ, tài liệu từ ngoài căn cứ về nội thành, Lê Quang Sáng vừa đi vừa đánh vòng, vượt qua hệ thống đồn bốt của địch. Có khi em dùng hai đồng xu vừa giả mải mê đánh đáo, vừa vượt qua bốt an toàn. Sau này, trong một chuyến về thành, em Sáng xin chỉ huy đội được dùng lựu đạn đánh một toán địch đi tuần tra trên đường phố, lựu đạn không nổ, địch bao vây em, định bắt sống. Em thông minh, tay nắm lại như cầm một trái lựu đạn, giơ lên nói một câu tiếng Pháp: "Còn một trái nữa". Bọn địch hoảng sợ nằm rạp cả xuống. Tuy vậy, Lê Quang Sáng đã không thoát khỏi sự vây bủa của kẻ thù, bị địch bắt đưa về bót tra tấn dã man hòng tìm ra cơ sở cách mạng. Em Sáng đã chịu nhiều trận đòn khốc liệt nhưng tuyệt nhiên không khai một lời. Địch đã đánh em đến chết tại nhà lao. Cũng như em Lê Quang Sáng, em Nguyễn Văn Mạng rất gan dạ, cũng cảm hoạt động có hiệu quả. Hai anh em ruột Nguyễn Bỉnh, Nguyễn Thị Thư đều là những liên lạc viên Tiểu Quỷ có thành tích. Em Xuân Đồng còn trực tiếp ném lựu đạn vào bọn lính lê dương đang tập trung ở ga, chuẩn bị đi càn, diệt một số tên... | |
|
Logged


