Xây dựng ngành Tai Mũi Họng trong kháng chiến chống Pháp
Hoàng Minh Hảo
Năm 1937, khi tốt nghiệp bác sĩ với một bản khóa luận xuất sắc, Trần Hữu Tước được giữ lại làm trợ lý cho giáo sư Lơmie, chuyên gia về tai mũi họng danh tiếng ở Pháp thời bấy giờ. Hai năm sau đó Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, bị cắt đứt liên lạc với nước nhà, ông tiếp tục làm việc trong các bệnh viện ở Paris. Trong suốt những năm tháng ấy, ông miệt mài làm việc, nghiên cứu, đi sâu vào nghiệp vụ chuyên môn và tìm cách tiếp xúc với bạn bè tiến bộ người Việt Nam, người Pháp, trong đó có một số là đảng viên cộng sản.
Tin Cách mạng Tháng Tám thành công làm bừng lên hy vọng về một ngày mai tươi sáng trong lòng những người Việt Nam ở Pháp. Bác sĩ Trần Hữu Tước mong muốn được trở về nước ngay để góp sức nhỏ bé của mình vào phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước. Khi ấy, là một bác sĩ chuyên khoa có kinh nghiệm, lại quen biết nhiều người trong y giới các nước, ông có thể sống một cuộc sống khá giả và lại có đủ mọi điều kiện để nghiên cứu khoa học.
Nhưng nguyện vọng tha thiết của bác sĩ Trần Hữu Tước là được trở về nước phục vụ đồng bào. Và khi cơ hội đến, ông không mảy may suy tính mà đưa ra ngay quyết định xin Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cùng về nước trên chuyến tàu năm 1946. Trong thư gửi ông Phạm Văn Đồng - Trưởng đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau, bác sĩ Trần Hữu Tước đã bày tỏ tình cảm của mình: “Các anh em bên nước nhà đã phải qua bao nhiêu thời kỳ kịch liệt gian truân, chúng tôi chẳng may chưa được gánh vác trực tiếp, rất lấy làm hổ thẹn; nguyện rằng sẽ dùng hết tâm cơ để đền bồi dòng máu chảy thiết tha cho nền độc lập” (Trần Hữu Tước - Cuộc đời và sự nghiệp, NXB Y học, 2013, tr.46).

Giáo sư Trần Hữu Tước ở ATK. (Ảnh tư liệu)

Bác sĩ Trần Hữu Tước (đeo kính) tại bệnh khoa Tai Mũi Họng ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang. (Ảnh tư liệu)
Ông không mảy may suy tính mà đưa ra ngay quyết định xin Chủ tịch Hồ Chí Minh cho cùng về nước trên chuyến tàu năm 1946.
Đặt chân về Hà Nội được ít ngày, ông được giao nhiệm vụ xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam. Nền y học nước ta khi ấy còn kém phát triển, chuyên ngành Tai Mũi Họng chưa được quan tâm, nhân dân, cán bộ và ngay cả trong y giới cũng ít người biết đầy đủ về chuyên khoa này. Theo những ghi chép sau này của bác sĩ Trần Hữu Tước thì cả Đông Dương khi ấy chỉ có một cơ sở tai mũi họng ở Bệnh viện Bạch Mai, mà khi ông về tiếp quản thì có một cán bộ tai mũi họng chuyên môn 2 năm, 1 phòng mổ trang bị hết sức lạc hậu, 1 phòng điều trị với 30 giường bệnh luộm thuộm.

Đặt chân về Hà Nội được ít ngày, ông được giao nhiệm vụ xây dựng ngành Tai Mũi Họng Việt Nam. Nền y học nước ta khi ấy còn kém phát triển, chuyên ngành Tai Mũi Họng chưa được quan tâm, nhân dân, cán bộ và ngay cả trong y giới cũng ít người biết đầy đủ về chuyên khoa này. Theo những ghi chép sau này của bác sĩ Trần Hữu Tước thì cả Đông Dương khi ấy chỉ có một cơ sở tai mũi họng ở Bệnh viện Bạch Mai, mà khi ông về tiếp quản thì có một cán bộ tai mũi họng chuyên môn 2 năm, 1 phòng mổ trang bị hết sức lạc hậu, 1 phòng điều trị với 30 giường bệnh luộm thuộm.
Ông viết: “Tôi hỏi một cái kim trích rạch màng tai, mọi người đều ngơ ngác như nghe một cái gì kỳ lạ, tôi hỏi một ống soi nội quản, mọi người nói không có bao giờ. Vậy mà sau đấy chúng tôi tìm thấy một bộ soi nội quản còn bọc nguyên trong giấy dầu xếp trong kho, mở ra đã han rỉ. Thì ra giáo sư chủ nhiệm khoa người Pháp trước đây không trích rạch màng tai bao giờ, không soi nội quản cho ai, và trình độ kỹ thuật của họ, chỉ có ở mức cắt amidan nạo vá xương chũm khi đã vỡ ra ngoài” (Bản đánh máy Những năm phấn đấu trong ngành Tai Mũi Họng Việt Nam của GS Trần Hữu Tước, 1966).
Cơ sở vật chất thì thiếu thốn, còn trong nhân dân, tuy nhiều người mắc bệnh tai mũi họng, nhưng cũng ít ai nghĩ đến việc đến bác sĩ chữa trị, mà thường tự chữa theo dân gian. Nhiều người còn cho rằng thối tai, thò lò mũi là lành, hoặc chữa bằng cách đổ nước mắm vào để trị thối tai, hoặc hóc xương thì nuốt nắm cơm to cho xương trôi xuống… Trong ngành y cũng có một số người quan niệm chuyên khoa tai mũi họng chẳng qua chỉ là ngoáy mấy cái tai thối, xông vài cái mũi bị tắc.
Trước những vấn đề đặt ra chồng chất, bác sĩ Trần Hữu Tước tranh thủ thời gian ngày đêm đọc các sách lý luận, nghiệp vụ, các tài liệu liên quan trực tiếp đến việc xây dựng bài giảng, tranh thủ ý kiến các đồng nghiệp ngành y, các cán bộ lãnh đạo, sinh viên, cán bộ nhân viên phục vụ… Ông mới giảng được một bài đầu tiên ở trường Đại học Y và chuẩn bị đưa đề án xây dựng ngành Tai Mũi Họng ra thực hiện thì kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Thế là mọi việc đành phải xếp lại, tất cả tập trung cho cuộc chiến đấu của quân và dân thủ đô.
Đầu năm 1947, ông cùng nhiều đồng nghiệp được lệnh rút ra khỏi Hà Nội, với nhiệm vụ vừa phục vụ chiến đấu vừa bảo đảm việc xây dựng được ngành Tai Mũi Họng phải đáp ứng được yêu cầu phục vụ trực tiếp cuộc kháng chiến, đồng thời tạo cơ sở cho sự phát triển lâu dài của ngành sau này. Xây dựng tổ chức, đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học… tất cả đều còn mới mẻ và khó khăn.

Giáo sư Trần Hữu Tước (giữa) cùng các học trò Trần Hữu Tuân, Đinh Thị Nguyệt nhân ngày thành lập Viện Tai Mũi Họng Trung ương, 1969. (Ảnh tư liệu)
Giai đoạn năm 1947-1951, bác sĩ Trần Hữu Tước cùng với các đồng nghiệp, học trò hoạt động, tuyên truyền mở rộng cơ sở ở Liên khu 3, Liên khu 4, đặc biệt là ở các tỉnh Hà Nam, Nam Định và Thanh Hóa. Trong hai năm (1947-1948) tổ Tai Mũi Họng do bác sĩ Trần Hữu Tước phụ trách đã đi phục vụ khám chữa bệnh ở hơn 30 địa điểm trong vùng Liên khu 3. Nhờ củng cố chặt chẽ quan hệ với nhân dân và tích cực tranh thủ khám, chữa bệnh nên ngày càng nhiều người biết đến chuyên khoa tai mũi họng. Nhưng một khó khăn mới đến với các ông là bông băng, thuốc men thiếu thốn trầm trọng. Bác sĩ Trần Hữu Tước đành bán mấy bộ quần áo mang từ Pháp về để mua bông băng, cũng dùng tạm được một thời gian ngắn.
Đến năm 1948, tổ Tai Mũi Họng được phép thành lập bệnh khoa Tai Mũi Họng (Chữ do Giáo sư Trần Hữu Tước dùng để nói về ngành Tai Mũi Họng lúc bấy giờ) ở Khu 3 - cơ sở Tai Mũi Họng đầu tiên trong kháng chiến, cơ sở lưu động với một số dụng cụ y tế do thợ rèn và thợ nguội chế tạo bằng tay. Lúc này, bác sĩ Trần Hữu Tước bắt đầu chú ý tới một số đề tài nghiên cứu khoa học.
Sang đến năm 1950, bệnh khoa lại được phép thành lập bệnh khoa Tai Mũi Họng chung cho Khu 3, Khu 4. Lúc đầu bệnh khoa đóng ở Sở Kiện (Hà Nam), nhưng do địch bắn phá ác liệt quá nên phải rời vào Thanh Hóa, lập cơ sở trong một ngôi chùa. Các cơ sở trên, tuy còn nhỏ bé, nhưng rất có ý nghĩa, là nơi điều trị, nghiên cứu và góp phần đào tạo cán bộ cho kháng chiến. Bệnh khoa tranh thủ và tận dụng mọi điều kiện sẵn có để phát triển ngành. Xe đạp được cải tiến để phát điện soi khám tai mũi họng và tiến hành một số phẫu thuật tai mũi họng phức tạp.

Giáo sư Trần Hữu Tước (người thứ hai từ trái sang) trong một ca hội chẩn với các bác sĩ và sinh viên nội trú (26/9/1974). (Ảnh tư liệu)
Trong kháng chiến, mặc dù còn thiếu thốn nhiều phương tiện, thuốc men, nhưng bác sĩ Trần Hữu Tước đã làm được khá nhiều việc tưởng như không thể, tiến hành một số phẫu thuật lớn mà ở Bệnh viện Bạch Mai trước kia của người Pháp chưa bao giờ làm.

Giáo sư Trần Hữu Tước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp (hàng thứ nhất, từ phải sang) cùng một số cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô cuối tháng 2/1947. (Ảnh tư liệu/Báo Quân đội nhân dân)
Đến năm 1951, bác sĩ Trần Hữu Tước sức khỏe giảm sút và lâm bệnh nên được Trung ương gửi sang Trung Quốc chữa bệnh. Năm 1952 về nước, ông bắt tay ngay vào việc nghiên cứu xây dựng bệnh khoa Tai Mũi Họng Trung ương. Ông đã chỉ đạo thành lập tại Việt Bắc một bệnh khoa Tai Mũi Họng với 60 giường bệnh, 2 phòng mổ, 4-5 cán bộ phục vụ bệnh nhân. Khi xây dựng cơ sở bệnh khoa tại Việt Bắc, các học trò thường ngăn bác sĩ Trần Hữu Tước lao động, không muốn để ông gác đêm, sợ ảnh hưởng tới sức khỏe nhưng ông vẫn hăng hái tham gia. Trong những năm từ năm 1952-1954, tại cơ sở Tai Mũi Họng này, bác sĩ Tước cùng đồng nghiệp đã khám bệnh, điều trị, phục vụ các chiến dịch Tây Bắc, Điện Biên Phủ.


