Xây dựng Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến lên chính quy, hiện đại
Sau hiệp định Genève 1954, miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội. Với cương vị là Tổng Tư lệnh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận thức rõ quân đội ta không thể chỉ dừng lại ở lực lượng bộ binh du kích như thời chống Pháp, mà phải tiến lên chính quy, hiện đại để bảo vệ miền Bắc và chuẩn bị cho công cuộc thống nhất nước nhà.
Dưới sự chỉ đạo của ông, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Các học viện, nhà trường quân đội được thành lập để đào tạo sĩ quan bài bản. Các quân chủng, binh chủng mới lần lượt ra đời: Hải quân (1955), Phòng không - Không quân (1963), Tăng thiết giáp, Đặc công... Sự ra đời của các lực lượng này đòi hỏi việc tiếp thu khoa học kỹ thuật quân sự tiên tiến, một nhiệm vụ không hề dễ dàng đối với một nước nông nghiệp nghèo nàn.
Đại tướng luôn nhấn mạnh việc kết hợp giữa nghệ thuật quân sự truyền thống của cha ông với tri thức quân sự hiện đại. Ông đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Nhờ tầm nhìn chiến lược và quá trình chuẩn bị lực lượng kỹ lưỡng trong giai đoạn này, quân đội ta đã có đủ sức mạnh vật chất và tinh thần để đương đầu với cỗ máy chiến tranh khổng lồ của đế quốc Mỹ trong thập niên tiếp theo.



