Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Tôi (Đại tá Đào Văn Phê) nhập ngũ khi đang là công nhân mỏ. Được huấn luyện 2 tháng ở Thái Nguyên, tôi và đồng đội nhận lệnh đi chiến đấu.
Tôi (Đại tá Đào Văn Phê) nhập ngũ khi đang là công nhân mỏ. Được huấn luyện 2 tháng ở Thái Nguyên, tôi và đồng đội nhận lệnh đi chiến đấu.
Ngày 24.1.1968, chúng tôi bắt đầu hành quân từ Tuyên Quang đến Thanh Hóa. Đó là những ngày giáp Tết Nguyên đán, chúng tôi được nghỉ 3 ngày ở nhà dân. Nhiều đồng chí ra phố huyện chụp ảnh gửi về cho gia đình làm kỷ niệm. Cá nhân tôi lại nghĩ, đi chiến đấu mà gửi ảnh về cho gia đình là “điềm gở”, nên quyết định không chụp.
Sau Tết, chúng tôi học bắn đạn thật, ném lựu đạn, đánh bộc phá... rồi chuẩn bị lên đường đi B (vào Nam chiến đấu).
Chuẩn bị lên đường, tôi được bổ nhiệm lên chức Tiểu đội phó Tiểu đội hỏa lực B40. Quân tư trang chúng tôi cần là 2 bộ quần áo dài, tăng, võng, áo mưa, 1kg muối, 1 bình tông đựng nước, 1 mũ cối, 1 xẻng nhỏ để đào công sự, 1 bao tượng đựng gạo và mỗi đồng chí được phát 2 bánh xà phòng giặt quần áo.
Về vũ khí, chúng tôi được cấp 1 khẩu B40, 3 viên đạn để trong hòm sắt. Tôi là tiểu đội phó còn phải mang theo chiếc xoong nấu cơm.
Tính ra, mỗi người lính chúng tôi phải mang trên người khoảng 32 - 36kg quân tư trang trên đường hành quân.
Từ Thanh Hóa, chúng tôi hành quân đi bộ vào Nam. Ban ngày đi, tối ngủ nhờ nhà dân ven đường, hoặc mắc võng ngủ giữa rừng.
Chúng tôi đi xuyên rừng ở tỉnh Nghệ Tĩnh (cũ). Đi mãi, đi mãi mới đến được Quảng Bình (cũ), rồi nhập vào đường giao liên của Đoàn 559.
Khi ở nhà, chúng tôi hình dung đường Trường Sơn là đỉnh núi cao, dài, bốn bề rậm rạp. Đến khi đặt chân lên đường Trường Sơn mới biết đó là một hệ thống giao thông tổng hợp có nhiều đường ngang, dọc, kéo dài hàng ngàn km từ Bắc vào Nam.
Tôi và những đồng đội của mình đã đặt chân trên đường mòn của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Cứ khoảng 15 - 20 cây số lại có một trạm giao liên, là nơi đón tiếp các đơn vị hành quân từ Bắc vào Nam, đồng thời đón thương binh từ Nam ra Bắc.
Những năm tháng ấy, hành quân theo đường giao liên đông lắm, đoàn ra đoàn vào như mắc cửi. Đoàn thương binh đi ra Bắc, gặp chúng tôi động viên tinh thần: “Chiến trường đang cần các đồng chí lắm”.
Giữa những đoàn quân ra trận và đoàn thương binh về Bắc, chúng tôi gọi nhau, hỏi thăm nhau, hô to lên: “Có ai ở Thanh Hóa không”, “có ai ở Hưng Yên không”... Chúng tôi tìm đồng hương, bắt tay động viên nhau, đúng với không khí: “Có buổi vui sao cả nước lên đường”, “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”.
Vất vả, gian lao, vượt núi băng rừng, nhưng chúng tôi rất khí thế. Có rất nhiều giai thoại đã được viết lên ở Trường Sơn. Có những hòn đá mòn đi 20 - 30 phân vì bước chân của bộ đội. Tôi tự hào khi bước chân của mình cũng đã được đặt lên trên những hòn đá, những chặng dốc dựng đứng, những khe núi... cùng biết bao thế hệ đã vượt Trường Sơn những năm tháng ấy.



