XE TĂNG TRÊN ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI
Đoạn hồi ký khẳng định vai trò quyết định của công tác kỹ thuật và công tác Đảng – công tác chính trị trong các chiến dịch ở Đường 9 – Nam Lào. Nhờ bảo đảm kỹ thuật chặt chẽ, xây dựng quyết tâm chiến đấu vững vàng và hiệp đồng binh chủng linh hoạt, lực lượng tăng – thiết giáp ngày càng trưởng thành qua các chiến dịch. Trung đoàn 202, đặc biệt Đại đội 3, lập nhiều chiến công và được tuyên dương Anh hùng LLVTND. Tác giả rút ra bài học: muốn đưa xe tăng vào chiến đấu thắng lợi phải nắm chắc địa hìn
Mùa thu năm 1969 Mỹ huy động lực lượng lớn, có không quân trực tiếp ủng hộ, lần đầu tiên dùng B52 mở cuộc hành quân “cù kiệt” (rửa hận) lấn chiếm cao nguyên Cánh Đồng Chum. Quân đội nhân dân Việt Nam đã sát cánh cùng quân đội Lào anh em phản công.
Về Binh chủng Tăng - Thiết giáp, Bộ Tư lệnh Binh chủng đã tổ chức đoàn 195A do tôi (Chính uỷ) và đồng chí Lê Quang Xỳ (trung đoàn phó) phụ trách. Đoàn 195 gồm: Đại đội 18, trang bị 11 xe tăng PT76 (xe tăng lội nước), 1 trung đội phá bom từ trường, 1 đại đội công binh, 1 đại đội thiết giáp bánh hơi có gắn trọng liên 14,5 mm, 1 bộ phận chỉ huy nhẹ.
Đoàn cán bộ chúng tôi từ Vĩnh Phú vào huyện Lệ Thuỷ - tỉnh Quảng Bình; từ Quảng Bình đến bản Ban, Xiêng Khoảng. Trước đó vào khoảng tháng 8-1966 Tiểu đoàn 177 của trung đoàn đã hành quân 896 km, vượt qua nhiều đoạn đường địch đánh phá ác liệt như dốc Bò Lăn, ngã ba Đồng Lộc, phà Long Đại, Lèn Bạc (ngầm Thác Cóc).
Xe phải tự bơi qua sông Mã, sông Gianh, đưa toàn bộ quân số, trang bị vào tập kết ở huyện Lệ Thuỷ - Quảng Bình, do đó chúng tôi đã có ít nhiều kinh nghiệm, tổ chức chỉ huy hành quân trong điều kiện chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Đoàn cán bộ chúng tôi đi đến Mường Xén - Nghệ An, vượt qua sông Nậm Mộ sang đất Lào, dự kiến từ đó tiến lên nghiên cứu Cánh đồng Chum.
Đoàn gồm trinh sát, điện đài, cán bộ kỹ thuật xe tăng. Có một chiều trú quân tại một cánh rừng thưa. ờ đây có nhiều chum vại, bên trong toàn tro, có lộn những mẩu xương. Có lẽ đây là những ngôi mộ trong chum của một dòng họ nào đó. Đằng sau chúng tôi là một đồi Thông. Đại đội Đặc công Sư đoàn 312 đóng ở đấy. Tôi đến đoàn cử một số cán bộ, chiến sĩ quay lại đồi thông, đến kho Sư đoàn 312 lãnh gạo để tiếp tục hành quân.
Vừa đến chân đồi thì bị phi cơ địch oanh tạc, đại đội Đặc công bị thương vong nặng. Đơn vị chúng tôi có một đồng chí hy sinh và vài người bị thương. Thế là kế hoạch hành quân trinh sát bị lộ, không thể tiếp tục theo hướng nam Xiêng Khoảng nửa; phải quay lại ngay trong đêm đó để đưa tử sĩ và thương binh về biên giới và tìm đi hướng khác.
Tôi và một chiến sĩ liên lạc cùng vừa đi vừa hỏi thăm thương binh. Đồng chí liên lạc nhập đoàn đi trước. Trời sụp tối rất nhanh. Tôi lầm lủi đi đáng lẽ phải đi về phía đông, nhưng tôi lại theo đường mòn đi lên phía bắc. Đi một quãng thấy lá phủ đầy đường. Tôi biết bị lạc giữa rừng một mình. Không thể tiếp tục đi, tôi dừng lại với tư thế sẵn sàng đối phó với mọi bất trắc. Tôi nghĩ nếu gặp bọn phỉ Vàng Pao thì với khẩu súng ngắn sẽ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng. Nếu gặp tình thế hiểm nghèo tôi lao xuống vực phía Đông, không để cho địch bắt.
Một đêm hết sức căng thẳng trôi qua. Trời vừa hửng sáng tôi quay lại đường mòn cũ. Đang đi, trời êm gió sao lại thấy bụi cây bên đường lay động. Bỗng thấy có một người tay cầm súng chĩa về phía mình. Tôi chợt hỏi: “Các anh có phải lính của anh Nguyên không). Thấy người đó hạ súng xuống, tôi nói tiếp “tôi là cán bộ đoàn Thiết giáp, sau trận bom hôm qua bị lạc, anh chỉ dùm đường trở lại”. Bấy giờ mới nhìn rõ người chiến sĩ. Họ nhìn tôi từ đầu đến chân, với trang phục bộ đội Việt Nam, khẩu súng k59 bên hông, họ biết ngay là cán bộ bộ đội Việt Nam và phải từ cấp tá trở lên (vì thời bấy giờ cấp tá mới được trang bị k59). Họ đưa tôi trở lại đường cũ.
Sở dĩ tôi trấn an họ ngay ở phút đầu tiên vì gọi đúng tên chủ nhiệm hậu cần 312, thủ trưởng họ. Tuy là một câu chuyện nhỏ nhưng lại là một kinh nghiệm xử trí khi gặp tình huống bất trắc: bình tĩnh, chủ động, nhanh trí.
Quay về biên giới Việt Lào, lại vượt sông Nậm Mộ lần 2. Cột chặt ba lô vào túi ni lông làm phao và cứ thế bơi sang sông. Thời gian đó tôi đã ghi vào nhật ký của mình vài cảm xúc:
Sông sâu nước xiết cuộn xuôi dòng,
Pháo giặc cầm canh người vắng không,
Súng, gạo gói vào trong bọc chặt,
Lao qua dòng nước lạnh ngăm ngăm.
Bụng đói cồn cào buồi nhức xương
V O nghiêng ngó cũng khinh thường,
sáu bận đi về trên nước xiết,
Nghe súng tiền phương quên đói mệt,
Lên bờ rũ nước ngoảnh nhìn sang,
Nậm Mộ hung hăng đã cúi hàng,
Cá kình cưỡi trên đầu sóng dữ,
Sá gì nguy hiểm, chấp gian nan.
Miền tây, ngày 13-11-1969
Phải hành quân theo đường 7 để đưa xe tăng vào Xiêng Khoảng, đi đêm, đường dốc, leo lên “cổng trời” sang Lào, đường quanh co. Chỉ một thao tác sai sót trong khi lái xe, có thể rơi xuống vực. Đường 7 trên đất Lào ít có chỗ trú quân tốt vì bị bom Mỹ phát quang sạch. Một chiếc xe tăng bị cháy khi trú quân.
Cánh đồng bản Ban rất đẹp. Mùa xuân hoa Ban nở rộ. Rất nhiều cây Me như ở Nam Bộ. Thật là tiếc cảnh đẹp nhưng không có thời giờ ngắm, vì phải hành quân khẩn trương để kịp đợt 2 của chiến dịch 139. Các phân đội theo các hướng cùng tiến vào Cánh Đồng Chum. Tôi vào làm đại diện Binh chủng tại Bộ chỉ huy Mặt trận thay anh Đào Huy Vũ. Anh Lê Quang Xì trung đoàn phó, Bùi Văn Tùng chính trị viên Tiểu đoàn đi cùng với phân đội.
Khi tôi cùng với đơn vị hành quân từ Lệ Thuỷ đến Mường Xén - Nghệ An; Tôi đã gặp anh Đào Huy Vũ tại bệnh viện dã chiến của Mặt trận. Anh bị bom ở chỉ buy sở bỏng một mắt, Mặt trận đưa anh về hậu phương bằng máy bay trực thăng để cứu chữa. Anh là cán bộ tham gia chiến đấu từ những ngày đầu kháng chiến, là phó Tư lệnh Binh chủng Thiết giáp. Thay anh làm tham mưu thiết giáp cho Bộ chỉ huy Mặt trận. Tôi đã giúp một phần cho Bộ chỉ huy Mặt trận trong việc sử dụng xe tăng thiết giáp. Sau đó tôi xin phép xuống đơn vị để cùng ban chỉ huy 195 chỉ đạo chiến đấu và rút kinh nghiệm công tác Đảng - công tác chính trị phân đội nhỏ trong tác chiến.
Trên đường từ Bộ chỉ huy Mặt trận đến Cánh Đồng Chum, thình lình gặp anh Bùi Văn Tùng từ bên nước sang. Anh đưa cho tôi một món quà hậu phương vô giá: Bức thư của vợ và hình đứa con trai mới 3 tháng. Khi đi chiến trường ghé qua nhà ở Hà Nội thì vợ tôi vào bệnh viện sinh cháu được 2 ngày. Thằng bé sinh thiếu tháng. Vợ tôi bồng con về nhà cho cha con gặp nhau. Đứa con đỏ hỏn, nhăn nheo, thế mà sau 3 tháng đã lớn đùng. Bức thư và ảnh của con là nguồn tiếp sức cho đôi chân vạn dặm của một tình nguyện quân trên đất Lào.
Người lính ra mặt trận đầy gian khổ nhưng yên tâm vì đằng sau có người vợ đảm đang, một nách 3 con, vừa công tác, vừa nuôi con, nuôi mẹ già. Ôi, vĩ đại thay người phụ nữ Việt Nam!
Sống trên Cánh Đồng Chum mới cảm nhận được hết vẻ đẹp hùng vĩ của nó. Một cao nguyên lớn rộng 1.600 km2, cao hơn mặt biển trên 1000 mét, nằm lọt giữa vùng rừng rậm núi cao, là nơi tập trung đông dân cư ở Bắc Lào. Đất đồi nhưng cày lên trồng bắp rất tốt, giống như đất đỏ quê tôi. Trâu bò thả rong hàng đàn.
Trên vùng đất bằng phẳng đó, ta thường gặp những thung lũng, khe suối nhỏ, hai bên bờ là những rặng thông cao. Sáng sớm cánh đồng trắng xoá một màn sương. Ngày nóng, đêm lạnh, nhân dân hiền hoà, đôn hậu. Hết mùa cày cấy thả rong trâu bò, đến mùa lại đi tìm con vật của mình về cày. Xóm này cách xa xóm kia. Nhà cất bằng gỗ thông, nhiều cái còn lợp bằng “ngói thông” rất đẹp.
Người ta gọi là Cánh Đồng Chum, có lẽ nơi đây tập trung nhiều lu, chum bằng đá, đó là di tích của nền văn hoá lớn (Megalith) tập trung ở cao nguyên Hủa Phan - tỉnh Sầm Nưa và cao nguyên Trấn Ninh - tỉnh Xiêng Khoảng. Chum tập trung nhiều nhất ở Bản Ang, bản Lạc Sen và bản Sòi.
Tôi đã đi qua bản Ang, một cánh đồng bằng phẳng có nhiều đồi trọc bao quanh. Một trái núi lớn được thiên nhiên dựng lên trên cánh đồng, dưới chân núi có động. Có lẽ là địa điểm nơi người tiền sử dùng làm nơi hoả táng người chết. Nhiều hũ gốm đựng tro xương người đặt trong núi bản Ang trong các chum đặt trên cánh đồng.
Chum rất nhiều, hình trụ to nhỏ khác nhau được đục đẽo sơ sài, đặt thẳng trên mặt đất hoặc chôn một phần dưới đất thành từng cụm. Hàng quân đến đây dừng chân lại, ngồi bên chum đá gợi cho ta suy nghĩ về những chặng đường văn minh của các bộ tộc Lào anh em. Có lẽ chủ nhân của những chum đá đá sống trong một hình thái xã hội phát triển cao thời bấy giờ. Một quốc gia cổ đại đã tồn tại ở đây.
Cư dân khu vực Cánh Đồng Chum đa số là người dân tộc Lào Lum và Lào Thưng. Trên vùng núi cao có người Lào Xung (còn gọi là Mẹo). Họ không phải là dân bản địa cũ mà từ phía Bắc di cư đến Lào khoảng 200 đến 300 năm nay và chỉ có ở Bắc Lào đến vùng tiếp giáp Trung Lào. Họ thường du canh, trồng lúa, ngô và thuốc phiện.
Một người Mẹo ra khỏi nhà thường mang theo con dao rất bén do họ rèn trụi. Họ tự làm súng một nòng, làm đạn, bắn giỏi, đi núi khoẻ, giàu tinh thần thượng võ. Họ có loại men ngâm rượu bằng lá cây rất tốt. Hút thuốc phiện hầu như phổ biến. Mỹ đã khai thác đặc điểm của dân tộc này, cố đưa Vàng Pao về làm lãnh tụ, chống phá cách mạng Lào và chia rẽ các dân tộc.
Trong đợt chiến đấu này, Đoàn 195 có nhiều gương chiến đấu tốt. Tôi muốn nói đến anh Nguyễn Huy Cận, chính trị viên Đại đội xe tăng 18. Anh Cận đã được học xe tăng ở Liên Xô. Trận đánh sân bay diễn ra vào hồi 2 giờ 35 phút ngày 18-2-1970. Do hiệp đồng không chặt, xe tăng xuất kích một mình. Một xe xông thẳng vào khu trung tâm vấp mìn, bị bắn cháy. Cả xe đều hy sinh. Xe của đại đội trưởng còn nằm ngoài hàng rào. Xe của chính trị viên Cận lao vào khu A dùng hoả lực, xích sắt chà sát quân địch. Các chiến sĩ ngồi trên xe tăng dùng súng 12,7 ly và AK diệt địch. Một xe đã làm chủ một khu, tả xung hữu đột. Trường hợp đó người chính trị viên đại đội đồng thời là chỉ huy một xe tăng, một chiến sỹ chiến đấu dũng cảm, linh hoạt, bằng hành động của mình đã cứu vãn tình thế và động viên bộ đội tiếp tục chiến đấu.
Trận này Đại đội 18 đi 4 xe, bị mìn nằm ngoài 2 xe, chỉ có 2 xe vào được đồn. Một xe bị bắn cháy ngay từ đầu, còn lại xe 514 của chính trị viên đại đội Nguyễn Huy Cận tiếp tục chiến đấu. Bộ binh (E148) không kịp tham gia.
Sau trận này địch núng thế, thấy không trụ nổi ở Cánh Đồng Chum nên cho máy bay bốc tàn quân địch về Long Chúng. Kết quả của đợt tham gia chiến dịch 139 và các đợt hoạt động trước đã tạo nên một khí thế mới trong toàn Trung đoàn xe tăng 202.
Cán bộ, chiến sĩ nô nức chuẩn bị về tư tưởng, trình độ chiến - kỹ thuật, sức khoẻ, hậu phương gia đình để thực hiện tốt quyết tâm: đi chiến đấu bất kỳ nơi nào Tồ quốc cần. Phong trào này đã góp vào lịch sử Binh chủng thiết giáp như một điểm sáng.
Sau chiến dịch, đơn vị trụ lại trên cao nguyên Cánh Đồng Chum, được bổ sung thêm lực lượng, tiếp tục tham gia chiến dịch 74B đường 7 và 4, góp phần giải phóng Mường Xúi, phát triển về hướng Salafukhum, tiếp theo là chiến dịch Cánh Đồng Chum - Sảm Thông.
Như vậy từ cuối năm 1969- 2/1970, một bộ phận của Trung đoàn 202 tham gia chiến dịch: 139 và 74B. Lần này tham gia chiến dịch với quy mô sử dụng xe tăng lớn hơn. Tôi còn nhớ năm 1970 khi gặp anh Phùng Thế Tài Phó Tổng tham mưu trưởng tại binh trạm đường 7, anh hỏi tôi “Sắp đến trên chiến trường Bắc Lào có sử dụng xe tăng T34 được không ?”. Tôi quả quyết trả lời nếu đảm bảo đường sá tốt thì sử dụng được.
Kinh nghiệm của Hồng quân Liên Xô năm 1945 đã đưa được tập đoàn quân cận vệ xe tăng số 6 vượt qua dãy núi Đại Hưng An diệt đạo quân Quan Đông của Nhật Bản tại Mãn Châu. Các chiến dịch lần trước ta đã đưa xe hạng nhẹ lội nước PT 76 đi được. Lần này ta quyết tâm sử dụng xe tăng hạng trung T34 (trọng lượng chiến đấu là 32 tấn).
Với kinh nghiệm đã có, cùng với sự hiệp đồng chặt chẽ với công binh, 18 xe tăng T34 nằm trong đội hình của đoàn 195 Trung đoàn 202, sau 16 ngày đêm hành quân, vượt quãng đường 750 km đã vào vị trí tập kết đúng thời gian quy định và kịp nổ súng vào ngày 18-12-1971.
Trong cuộc hành quân này, công tác bảo đảm kỹ thuật có tính chất quyết định. Các cán bộ kỹ thuật giỏi rất xông xáo, không bỏ sót một hư hỏng nhỏ, kịp thời sửa chữa, khắc phục khó khăn để hành quân. Đại đội 9 ba năm liền là lá cờ đầu về quản lý kỹ thuật của Binh chủng .
Công tác Đảng- công tác chính trị thành công lớn trong việc xây dựng quyết tâm chiến đấu trong hành quân và suốt quá trình chiến đấu, người chính trị viên của các đơn vị xe tăng đã thực hiện được lời dạy của Bác: “Chính trị viên phải thân thiết như một người chị, công bình như một người anh, hiểu biết như một người bạn”.
Qua chiến dịch này, lực lượng thiết giáp của ta đã trưởng thành vượt bậc so với chiến dịch Mường Xúi tháng 6-1969 và Cánh Đồng Chum tháng 2-1970. Sử dụng xe tăng tập trung hơn, phát huy được khả năng cơ động, sức đột kích mạnh, hiệp đồng chặt chẽ với bộ binh .
Trên chiến trường đường 9 Nam Lào, Trung đoàn 202 đã đưa Tiểu đoàn 397 tham gia trong đội hình chiến đấu của Binh chủng. Tháng 9- 1970, tiểu đoàn đã hành quân vào Quảng Bình cùng với 2 tiểu đoàn bạn hành quân vào tuyến đường 559.
Nằm trong thê đội 2 của chiến dịch nên đến ngày 17-2-1971 vẫn còn nằrn ở Lâm Trạch - Quảng Bình. Ngày 10-3 đã đưa tiểu đoàn vào vị trí tập kết gần bản Tà Lao (bắc Sê Pôn). Nhưng đáng tiếc là Đại đội 6, Đại đội 15 không kịp tham gia chiến đấu. Chỉ có Đại đội 3 phối thuộc cho Sư đoàn 324 tiến công địch trên cao điểm 550, tham gia diệt Lữ 147 thủy quân lục chiến bắt tên đại tá lữ trưởng vào ngày 23-3.
Tham gia trận phản công đường 9 Nam Lào trung đoàn tiến thêm một bước mới, có thêm nhiều bài học về hành quân, tiếp cận địch, tác chiến phản công. Đại đội 3 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được tặng thưởng Huân chương Quân công hạng 2 và nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 23-9-1973.
Các chiến dịch Trung đoàn 202 được tham gia trên đất Lào anh em cho chúng tôi nhiều bài học kinh nghiệm quý báu. Về công tác chỉ huy, muốn đưa xe tăng vào chiến đấu trước hết cần phải nghiên cứu nắm vừng địa hình. Yếu tố địa hình hết sức quan trọng đảm bảo cho ta có phương án hành quân chu đáo, đưa được xe tăng đến đích an toàn, sẵn sàng chiến đấu.
Có một nhà quân sự nói đại ý rằng “Nơi nào có một con hươu đi được thì một người lính đi được, một sư đoàn có thể qua được”. Đó là câu chuyện về bộ binh với khẩu súng trường, bao gạo trên vai. Còn đưa một chiếc xe tăng với sức nặng 32 tấn, cồng kềnh thì không phải đường nào cũng đi được. Cán bộ chiến sĩ xe tăng thường nói: Công binh và Thiết giáp là bạn đồng hành.
Về chiến thuật cần hết sức chủ động, linh hoạt. Về nguyên tắc, thông thường xe tăng phải chiến đấu hợp đồng và quy mô sử dụng từng trung đội trở lên (3 chiếc) nhưng khi cần thiết và tình hình bắt buộc phải biết chiến đấu độc lập, thậm chí 1 xe. Người chỉ huy xe tăng từ người trưởng xe trở lên phải biết chỉ huy giỏi đồng thời sử dụng tốt chính chiếc xe của mình khi cần thiết chiến đấu như một người lính xuất sắc.
Về công tác kỹ thuật hành quân đường dài bằng xích từ hậu phương ra chiến trường là điều khó tránh nhưng tốn giờ máy nổ, hại tuổi thọ xe. Một xe tăng dùng 400 giờ máy nổ phải trung tu, vì thế công tác bảo đảm kỹ thuật tốt là bảo đảm 50% thắng lợi. Khẩu hiệu trung tâm là xe đến đủ, đúng thời gian, chiến đấu được ngay. Chiến công bao giờ cũng có phần đóng góp xứng đáng của công tác kỹ thuật.
Về công tác chính trị, xây dựng quyết tâm chiến đấu không phải là khẩu hiệu trừu tượng mà cần thể hiện trên tất cả các khâu của người chỉ huy trên các linh vực chỉ huy, công tác bảo đảm kỹ thuật, hậu cần, công tác Đảng, công tác chính trị trong thời bình tạo nên sức mạnh dự trữ cho thời chiến. Làm sao tạo được cho người chiến binh có bản lĩnh chiến đấu vững vàng, một cái vốn dồi dào đủ để đối phó với mọi tình huống không thể lường trước được.
Người cán bộ chính trị công tác ở Binh chủng là người chỉ đạo tốt về công tác Đảng, công tác chính trị, đồng thời khi cần cũng có thể đảm đương trách nhiệm một người chỉ huy giỏi và là một trưởng xe tốt, thành thạo kỹ thuật, phương tiện thông tin trên xe, nhờ đó theo dõi, động viên chiến đấu Phong cách chiến đấu tốt cổ vũ rất lớn cho đồng đội, Sự kiện chính trị viên Nguyễn Huy Cận là một tấm gương tốt cho những cán bộ chính trị trong Binh chủng Xe tăng.


