XẾP BÚT NGHIÊN
Giai đoạn 1932–1935, trong bối cảnh phong trào cách mạng rơi vào thời kỳ thoái trào, đời sống nhân dân quê tác giả chìm trong đói nghèo, khủng hoảng. Những lần thăm anh trai bị giam giữ giúp ông tận mắt chứng kiến sự tàn bạo của chế độ thực dân, đồng thời thay đổi nhận thức về người lính Việt trong hàng ngũ thuộc địa. Nghe lời thầy, ông xuống Quán Cơm học nghề thuốc tại nhà ông Phan Đình Hiển – nơi thường xuyên lui tới của các chính trị phạm mãn hạn tù. Tại đây, ông được tiếp xúc với những ngườ
Vào những năm 1932 -1935 phong trào cách mạng quê tôi lắng xuống mà sau này trong tổng kết lịch sử Đảng gọi là thời kỳ thoái trào. Thêm vào đó cuộc khủng hoảng kinh tế, nạn hạn hán ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân, đặc biệt là dân nghèo.
Nhiều người đi tha phương cầu thực. Từ ngày anh tôi đi tù, cuộc sống gia đình ngày càng khó khăn. Tôi không có tiền lên huyện theo học trường tiểu học, đành ở nhà chuyển sang học chữ nho với các thầy đồ trong làng. Nhờ biết chữ nho mà tôi đọc được Luận Ngữ, Mạnh Tử, Đại học trung dung. Mỗi tháng tôi xin nghỉ vài hôm đi thăm anh, khi ở nhà giam huyện, lúc ở nhà lao tỉnh. Có lần bọn chúng bắt tù đi lên rừng đẵn gỗ, tôi phải lặn lội lên tận đầu nguồn sông Trà Khúc thăm anh. Những lần đi như thế thật vất vả nhưng đã mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết của tôi. Tôi được tận mắt thấy bọn lê dương phang báng súng vào đầu vào lưng người tù, hay cảnh những người tù bị chết trôi khi chuyển bè gỗ qua thác "Hú" chở về xuôi, cảnh những người tù mặt bủng da vàng đang lên cơn sốt, cũng phải dầm mình trong mưa gió làm công việc khổ sai. Lòng tôi đau thắt.
Có một kỷ niệm mà mãi đến bây giờ tôi vẫn không quên. Đó là lần đến thăm anh tôi bị giam ở đồn Núi Sứa vào ngày chủ nhật. Gặp lúc bọn lính dong tù ra sông Trà Khúc tắm. Suốt dọc đường, tôi cứ chạy theo để được nói chuyện với anh. Bỗng một tên quan binh Pháp đi ngược lại, gặp người lính khố xanh nó hô to "gác đê vu". Người lính đứng sững, nó dang tay tát bốp vào mặt. Máu miệng máu mũi người lính trào ra. Tên quan binh Pháp giật giật cổ áo anh lính rồi thản nhiên bỏ đi. Người cai khố xanh bước lại hỏi:
- Vì sao nó đánh anh?
- Dạ thưa thầy, tôi quên cài cúc áo cổ. - Người lính trả lời.
- Thôi cài lại rồi đi, khéo nó trở lại thì khốn. - Anh buông một tiếng thở dài, lẩm bẩm. - Rõ nhục! Rõ nhục!
Tắm xong đám tù ngồi trần phơi mình dưới nắng đợi áo quần khô. Tôi hỏi anh tôi về thái độ người cai lúc nãy. Anh tôi trả lời:
- Nhiều người đi lính cho Pháp hoặc vì bị bắt buộc, hoặc vì cơm áo nhưng trong thâm tâm họ vẫn còn tình cảm với giống nòi đồng loại. Có người được anh em tù chính tri tuyên truyền giác ngộ đã tỏ ra có cảm tình, giúp đỡ anh em lúc ốm đau. Nhưng bản thân họ chưa dám hành động. Lần đầu nghe anh tôi nói về người lính Việt Nam trong hàng ngũ lính thuộc địa Pháp đã khiến tôi thay đổi nhận thúc và thái độ trước đây với họ.
Khi chữ "Thánh hiền" trong tôi đã lưng vốn, thầy tôi bảo:
- Nghề làm thuốc cứu sống con người, giúp đồng loại đỡ đau khổ. Thầy khuyên em nên học lấy nghề làm thuốc.
Đang trong lúc chưa tìm thấy hướng đi cho cuộc đời, lại phải chứng kiến những cảnh đau lòng mà kẻ thù đổ xuống đầu dân mình, tôi nghe theo lời khuyên của thầy với ý nghĩ: "Ít ra mình cũng làm được điều có ích cho người dân nghèo".
Tôi xuống cầu Quán Cơm xin học nghề thuốc ở nhà ông Phan Đình Hiển - một người từng tham gia phong trào "Ba mươi - Ba mốt" bị tù, nay được thả về, mở hiệu bốc thuốc và chữa bệnh. Chính nơi đây tôi được tiếp xúc với nhiều chính trị phạm đã mãn hạn tù giam nhưng còn bị quản thúc ở quê, hàng tháng họ phải lên trình diện ở tổ mật thám tỉnh như các anh Phạm Viết My, Phạm Trân...
Trên đường về họ thường ghé lại ngủ ở nhà ông Phan Đình Hiển để chuyện trò, luận bàn thời cuộc. Qua đấy tôi được nghe về chuyện Hồng quân Trung Hoa, về những cuộc đấu tranh của các chính trị phạm đòi cải thiện đời sống, chống lại thái độ đối xử của giám thị với tù nhân. Có một lần cụ Trần Kỳ Phong, một nhà nho yêu nước đã từng bị thực dân Pháp lưu đày ở Côn Đảo ghé lại nhà ông Phan Đình Hiển. Sau bữa cơm chiều cụ gọi tôi lại hỏi thăm gia cảnh. Nghe tôi kể cảnh nhà túng thiếu, có người anh hoạt động cách mạng bị bắt tù, cụ trầm ngâm một lúc rồi khuyên tôi:
- Cháu phải cố gắng học tập, đọc nhiều sách báo, mở rộng kiến văn và phải lập chí tiến thủ. Có chí tiến thủ mà không có hiểu biêt thì khác chi thuyền không lái, làm sao cống hiến được nhiều cho xã hội, đất nước? Rồi cụ đọc cho tôi nghe một số bài thơ cụ sáng tác. Đến nay tôi chỉ còn nhớ vài câu.
Cát bùn vùi lấp người thiên cổ,
Sóng gió lần xoay cuộc đại đồng.
Một lần khác có người mang khăn gói vào xin gặp thầy Hiển. Thầy Hiển vừa bước ra, bỗng hai người ôm chầm lấy nhau thân thiết. Sau tôi mới biết đó là anh Đội Ngọc vừa ở nhà tù ra. Anh Ngọc kể lại cuộc đấu tranh đòi biệt đãi đối với tù chính trị ở nhà lao Buôn Ma Thuột và Quảng Ngãi đã giành thắng lợi. Anh còn kể bao nhiêu chuyện về phong trào đấu tranh của Mặt trận Bình dân Pháp. Với niềm lạc quan, anh Ngọc nói:
- Trước mắt ta phải lo đẩy mạnh phong trào, củng cố và phát triển tổ chức, kẻo nay mai thắng lợi đến nơi ta không lo kịp.
Tôi như bị thôi miên bởi đôi mắt sáng quắc, nụ cười cởi mở và giọng đầy lạc quan tin tưởng của anh Đội Ngọc và tự hỏi "Làm gì?" Phải làm gì bây giờ?" Chả lẽ ta chỉ bằng lòng với cuộc đời một thầy thuốc sao?"... Những câu hỏi ấy cứ bám riết lấy tôi, buộc tôi suy nghĩ và trăn trở...
Những ngày ở Quán Cơm, sau bữa cơm chiều, tôi thường đi bách bộ lên cầu Trà Khúc hóng mát. Cách cầu không xa có một người thợ cắt tóc dáng gầy, đen, có đôi mắt sâu thẳm, lầm lì, trong chiếc lều tạm bên đường. Người quanh vùng gọi anh bằng cái tên thân mật: "Anh Tư cắt tóc". Một hôm tôi đang dạo bước ra giữa cầu thì anh Tư đi theo và bắt chuyện. Qua lời tâm sự tôi biết anh là một chính trị phạm vừa được tha về còn đang bị bọn mật thám rình mò theo dõi. Anh dựng lều cắt tóc để kiếm sống. Từ hôm đó tôi thường lui tới, lúc cắt tóc, lúc nghe nói chuyện. Thì ra anh Tư tên thật là Tư Danh, huyện ủy viên Sơn Tịnh từ những năm 1930 - 1931, là bạn tù của anh tôi. Anh Tư Danh khuyên tôi đứng ra thành lập hội "Thanh niên báo chí", tìm đọc sách báo mới và tổ chức cho nhiều ngươi cùng đọc cùng nghe để họ hiểu biết thời cuộc, hiểu biết con đường đấu tranh gian khổ đòi quyền dân chủ dân sinh. Anh Tư nhận xét:
- Ông Hiển là người tốt, nhưng đã bắt đầu ngại hoạt động và có tư tưởng làm giàu. Còn ông Bạch Quang Ba cộng tác với báo Tiếng Dân do cụ Huỳnh Thúc Kháng chủ trương là tờ báo mang tư tưởng cải lương.
Nghe lời anh, tôi tổ chức một nhóm thanh niên góp tiền mua sách báo mới, trao đổi cho nhau đọc và đọc cho nhiều người nghe.
Tháng tư năm 1936 mặt trận Bình dân Pháp giành thắng lợi lớn ở chính quốc. Chính phủ mới lên nắm quyền, nới rộng tự do ngôn luận trên các thuộc địa. Ở Đông Dương, Đảng chủ trương dùng sách báo công khai tuyên truyền, giáo dục quần chúng. Hội "Thanh niên báo chí" của chủng tôi hoạt động mạnh.
Năm 1937 một phái đoàn đại diện Chính phủ Pháp do Gô-đa, người của Đảng Xã hội dẫn đầu sang Đông Dương có đi qua Quảng Ngãi. Đảng chỉ thị cho cơ sở tổ chức quần chúng mít tinh đón tiếp, đưa yêu sách.
Ngày 1 tháng 3 năm 1937, hàng vạn quần chúng từ các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh kéo vào, Đức Phổ, Mộ Đức, Tư Nghĩa kéo ra, Nghĩa Hành kéo xuống, đứng chật hai bên đường trong thị xã Quảng Ngãi, nơi phái đoàn đi qua, hô khẩu hiệu, đưa yêu sách. Tôi bị lôi cuốn trong không khí sôi sục cách mạng của quần chúng quê nhà, tham gia vào các cuộc mít tinh lấy chữ ký vào các bản kiến nghị gửi lên viện dân biểu Trung Kỳ. Chỉ trong một thời gian ngắn, các hội Nông dân Tương tế, Thanh niên Dân chủ phát triển mạnh ở khắp các làng xã miền tây huyện Sơn Tịnh. Được rèn luyện, trưởng thành trong phong trào quần chúng, cuối năm 1937 tôi được giới thiệu vào công tác trong hệ thống bí mật của Đảng.


