XUÂN ĐINH HỢI 1947-MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
XUÂN ĐINH HỢI 1947-MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
XUÂN ĐINH HỢI 1947-MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN
Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, đất nước bước vào những tháng ngày chiến đấu đầy gian khổ. Tết Đinh Hợi năm 1947 đến trong một hoàn cảnh đặc biệt. Không còn những ngày Tết thanh bình, mọi người phải sống giữa khói lửa chiến tranh, nhiều gia đình phải sơ tán, bộ đội và dân quân ngày đêm chiến đấu bảo vệ quê hương.
Nhưng trong hoàn cảnh ấy, mùa xuân vẫn đến. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn muốn đồng bào cả nước đón Tết với một niềm tin: kháng chiến nhất định thắng lợi, đất nước nhất định giành lại độc lập và thống nhất.
Ngày 1 tháng 1 năm 1947, trong ngày đầu tiên của năm mới, Bác Hồ gửi lời chúc Tết tới đồng bào và chiến sĩ cả nước. Người nhắc đến những năm tháng dân tộc phải chịu cảnh mất nước, nhắc đến cuộc đấu tranh giành độc lập vừa mới bắt đầu và kêu gọi mọi người bước vào năm mới bằng một quyết tâm mới, lực lượng mới.
Đối với Bác, năm mới không chỉ là thời điểm để chúc nhau những điều tốt đẹp. Đó còn là lúc mỗi người tự hỏi mình phải làm gì cho Tổ quốc. Người tin rằng nếu toàn dân đồng lòng, nếu mỗi người đều góp sức mình vào cuộc kháng chiến thì dân tộc Việt Nam nhất định sẽ vượt qua được những thử thách trước mắt.
Cũng trong những ngày đầu năm, Bác gửi thư tới Chính phủ và nhân dân Pháp. Người khẳng định rằng nhân dân Việt Nam mong muốn hòa bình và không có thù hằn với nhân dân Pháp. Điều nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận là ách thống trị và cuộc chiến tranh xâm lược. Việt Nam chiến đấu không phải vì muốn chiến tranh mà vì muốn bảo vệ quyền được sống độc lập, tự do của mình.
Những ngày tiếp theo, Bác tiếp tục gửi những lời thơ, lời nhắn nhủ tới đồng bào. Mùa xuân năm ấy được Người gọi là mùa xuân kháng chiến.
Tết vốn là dịp để mọi gia đình sum họp, làm cỗ, vui chơi. Nhưng Tết năm 1947, đất nước đang chiến đấu. Vì vậy, Bác kêu gọi đồng bào không nên tổ chức ăn uống linh đình, phải tiết kiệm tiền bạc, lương thực, dành sức người, sức của cho kháng chiến. Những người ở hậu phương có thể đào hầm trú ẩn, tăng gia sản xuất, chuẩn bị lương thực và gửi quà, gửi thư động viên những người đang chiến đấu ngoài mặt trận.
Bác muốn mọi người hiểu rằng đón Tết trong thời chiến cũng là một cách tham gia kháng chiến.
Rồi ngày cuối cùng của năm cũ cũng đến.
Chiều 30 Tết, tức ngày 21 tháng 1 năm 1947, Bác rời Cần Kiệm để đi dự phiên họp tất niên của Hội đồng Chính phủ tại khu vực Sài Sơn, gần Chùa Thầy.
Trời hôm ấy mưa. Con đường lầy lội, trơn trượt. Chiếc xe chở Bác nhiều lần gặp khó khăn. Có lúc một bánh xe bị sa xuống ruộng. Những người đi cùng phải tìm cách đưa xe lên. Trong lúc mọi người đang loay hoay, một số người dân gần đó đã đốt đuốc đến giúp.
Chiếc xe cuối cùng cũng tiếp tục được hành trình.
Khoảng 21 giờ, Bác tới nơi họp. Trong buổi gặp mặt cuối năm, Người cùng các đồng chí bàn bạc công việc của đất nước và cuộc kháng chiến. Một năm mới sắp đến, nhưng công việc của Chính phủ vẫn bộn bề.
Rời cuộc họp, Bác còn một việc quan trọng phải làm.
Đêm giao thừa năm ấy, Người muốn trực tiếp gửi lời chúc Tết tới đồng bào cả nước qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam.
Địa điểm phát sóng lúc đó là hang Chùa Trầm.
Khoảng 22 giờ 30 phút, Bác lên đường. Trời càng lúc càng mưa to. Đường đi khó khăn, nhiều đoạn xe không thể chạy được. Những người đi cùng phải xuống đẩy xe. Trong đêm tối, giữa tiếng mưa và bùn đất, đoàn xe vẫn cố gắng tiến về phía Chùa Trầm.
Cuối cùng, Bác cũng đến nơi.
Trong hang Chùa Trầm, điện vẫn sáng. Máy phát thanh hoạt động liên tục. Cán bộ, nhân viên của Đài Phát thanh đang chờ Người.
Thời khắc giao thừa đã đến gần.
Bác bước vào phòng bá âm và đọc lời chúc Tết gửi đồng bào cả nước. Sau đó, Người đọc bài thơ “Chúc năm mới”.
Trong bài thơ, hình ảnh mùa xuân gắn liền với lá cờ đỏ sao vàng, với tiếng kèn kháng chiến và với sức mạnh của toàn dân. Bác nhắc đến cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện và khẳng định niềm tin vào thắng lợi của cuộc trường kỳ kháng chiến.
Lời thơ vang lên giữa đêm giao thừa.
Đó không chỉ là một lời chúc năm mới.
Đó là lời động viên gửi tới hàng triệu đồng bào và chiến sĩ đang sống trong những ngày tháng gian khổ nhất của cuộc kháng chiến.
Đọc xong bài thơ, Bác bước ra gặp các cán bộ, nhân viên của Đài Phát thanh.
Người gặp đồng chí Trần Lâm, người phụ trách đài, rồi xin mấy tờ giấy hồng. Bác viết hai câu đối:
“Kháng chiến tất thắng - Kiến quốc tất thành”
để tặng sư cụ Chùa Trầm.
Trong lúc nói chuyện, Bác bất chợt nhìn thấy chiếc áo sơ mi của anh Nguyễn Nhất bị rách ở vai. Bác quay sang nhắc chị Dương Thị Ngân, người phụ nữ duy nhất có mặt tại đài lúc ấy, nhớ vá lại áo cho đồng chí.
Mọi người cảm động trước sự quan tâm của Bác. Trong giờ phút giao thừa, giữa lúc đất nước đang chiến tranh, Người vẫn để ý đến một chiếc áo rách của một cán bộ.
Đúng lúc Bác chuẩn bị ra về, sư cụ Chùa Trầm đến xin gặp Người.
Sư cụ thành kính mang đến một mâm bánh chưng mà chú tiểu đã chuẩn bị để biếu Bác. Người cảm ơn và chúc nhà chùa sang năm mới tiếp tục cầu mong cho cuộc kháng chiến sớm thành công.
Khoảng 0 giờ 45 phút ngày mồng Một Tết, Bác rời Chùa Trầm.
Trời vẫn mưa rất lớn.
Trên đường về, chiếc xe lại gặp khó khăn. Những người đi cùng phải xuống đẩy xe nhiều lần. Khi chỉ còn cách nhà khoảng hai cây số, cả hai bánh xe lại tụt xuống ruộng.
Đêm đã quá khuya. Không dễ tìm người đến giúp.
Người lái xe ở lại trông xe, còn Bác cùng những người đi theo lội bộ về nhà.
Mùa xuân đầu tiên của cuộc kháng chiến đã bắt đầu như thế.
Không có một chuyến xe thuận lợi. Không có những cuộc vui lớn. Không có những bữa tiệc linh đình.
Chỉ có một vị Chủ tịch nước đi trong đêm mưa, cùng đồng bào và chiến sĩ bước vào một mùa xuân mà phía trước là cuộc trường kỳ kháng chiến.
Sáng 22 tháng 1, ngày mồng Một Tết, Bác vẫn dậy sớm làm việc như thường lệ.
Người phân công các đồng chí trong cơ quan đi chúc Tết những gia đình ở gần. Bác tự tay viết mấy chữ Hán “Cung hỷ tân xuân” trên giấy hồng điều, kèm theo một quả cam và một quả quýt để gửi sang chúc Tết, mừng tuổi gia đình chủ nhà.
Buổi tối, khoảng 21 giờ, Bác tiếp các đồng chí Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và Trần Đăng Ninh đến chúc Tết.
Nhưng cuộc gặp không chỉ là một cuộc chúc Tết.
Bên bếp lửa hồng, những người lãnh đạo đất nước lại cùng nhau bàn bạc công việc. Cuộc họp kéo dài đến tận một giờ sáng hôm sau.
Tết đã đến, nhưng cuộc kháng chiến không nghỉ.
Những ngày sau đó, Bác tiếp tục hướng về đồng bào và chiến sĩ ở những nơi đang chiến đấu ác liệt.
Ngày 24 tháng 1, Người gửi thư chúc Tết đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ.
Trong thư, Bác nhắc đến những hy sinh của đồng bào, chiến sĩ Nam Bộ trong cuộc đấu tranh vì thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Người tin rằng lòng trung thành, sự dũng cảm và những hy sinh ấy sẽ góp phần đưa đất nước tới thắng lợi và trở thành những trang vẻ vang trong lịch sử dân tộc.
Bác cũng nhắc lại rằng Việt Nam đã cố gắng tìm cách giải quyết vấn đề bằng hòa bình, mong muốn cộng tác với nhân dân Pháp. Nhưng khi thực dân Pháp dùng vũ lực để trở lại xâm lược, nhân dân Việt Nam không còn con đường nào khác ngoài đứng lên kháng chiến.
Toàn dân đã xác định một quyết tâm: không chịu làm nô lệ, kiên quyết chiến đấu cho đến khi giành lại được thống nhất và độc lập.
Cuộc chiến sẽ còn rất gian khổ. Nhưng Bác tin chắc rằng thắng lợi cuối cùng sẽ thuộc về nhân dân Việt Nam.
Và rồi ngày 27 tháng 1 năm 1947, nhân dịp Tết cổ truyền, Bác gửi thư tới các chiến sĩ cảm tử quân Thủ đô, những người đang chiến đấu giữa lòng Hà Nội.
Bức thư bắt đầu bằng những lời hỏi thăm rất thân tình:
Các em ăn Tết thế nào? Có vui không?
Bác kể rằng Người và các thành viên Chính phủ vì nhớ đến các chiến sĩ nên cũng không ai nỡ ăn Tết. Đồng bào ở hậu phương cũng giảm bớt những cuộc ăn uống, tiết kiệm để dành sức người, sức của cho cuộc kháng chiến.
Rồi Bác nói với các chiến sĩ về ý nghĩa của sự hy sinh.
Các chiến sĩ cảm tử chiến đấu để Tổ quốc được sống còn.
Trong những người lính đang bảo vệ Hà Nội, Bác nhìn thấy truyền thống bất khuất của dân tộc đã được truyền qua hàng nghìn năm lịch sử. Người nhắc đến Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và những thế hệ đã đứng lên bảo vệ non sông.
Những chiến sĩ hôm nay đang tiếp tục truyền thống ấy.
Họ chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, đồng thời truyền lại cho các thế hệ mai sau một tinh thần không chịu khuất phục trước ngoại xâm.
Cuối thư, Bác gửi đến họ lời động viên và khẳng định rằng lòng Người, lòng Chính phủ và lòng toàn thể đồng bào luôn ở bên cạnh các chiến sĩ.
Mùa xuân Đinh Hợi năm 1947 khép lại như vậy.
Đó là một mùa xuân đặc biệt.
Bác Hồ đã đón giao thừa trong một hang đá giữa trời mưa, đọc lời chúc Tết qua làn sóng phát thanh. Người đi trên những con đường lầy lội, xe nhiều lần sa xuống ruộng, rồi cùng mọi người lội bộ về nhà.
Người không đón Tết bằng những cuộc vui lớn.
Người đón Tết cùng đồng bào và chiến sĩ bằng niềm tin vào thắng lợi của cuộc kháng chiến.
Và trong những ngày đầu tiên của năm mới ấy, từ hậu phương đến tiền tuyến, từ Nam Bộ đến Hà Nội, từ những người dân bình thường đến những chiến sĩ cảm tử, tất cả đều nhận được một thông điệp chung từ Bác Hồ:
Mùa xuân này có thể còn nhiều gian khổ, nhưng nếu toàn dân đồng lòng, nếu mỗi người đều góp sức cho Tổ quốc, thì nhất định sẽ có một mùa xuân khác — mùa xuân của độc lập, thống nhất và hòa bình.



