Cả đám người yên lặng, trật tự, bỗng nhộn nhịp hẳn lên: hai chiếc xe ca, chạy ngang qua đường băng, vòng ra trước dãy nhà của máy bay rồi dừng lại ở cuối sân, cạnh cái lều vải mấy chục thước. Người ta xúm xít xung quanh xe, không phải để tìm một khuôn mặt quen thân, mà là để ghi lại một quang cảnh hiếm có. Máy ảnh bấm liên hồi, máy quay phim quay xè xè. Giữa những tiếng gọi nhau í ới, những tù binh gịăc lái Mỹ lần lượt xuống xe. Mỗi lúc nghe gọi đến tên mình, người tù bước ra khỏi hàng, tiến vào trong lều vải, đứng nghiêm chào các sĩ quan hai bên, trình diện. Một người, dễ thường là nhà báo, chìa ra trước mặt người tù binh một cái cần có gắn micro, cố thu cho được một lười tuyên bố gì đó, nhừng lần nào cũng vậy, các tù binh đều gạt nhẹ sang một bên, rồi lặng lẽ bước theo một lính quân cảnh đi kèm ra tận máy bay.
Đứng trên đài chỉ huy nhìn xuống sân ga, rồi lại đảo mắt nhìn về phía thành phố, tôi bồi hồi xúc động, vừa tin tưởng tự hào, vừa căm giận đau thương. Thủ đô mến yêu, xinh đẹp của chúng ta, vẫn xanh tươi với những rặng cây, trong ánh nắng chiều xuân. Khác với những thủ đô của các nước khác, ở đây không có những dãy nhà chọc trời, những rừng cao ống khói, nhưng chính tại nơi đây, những ngày cuối năm 1972 lại là một trung tâm rung cảm lòng người trên cả hành tinh. Cách đây không lâu, mảnh đất Thăng Long đã từng gọi là “phi chiến địa” đã trở thành nơi nóng bỏng nhất của quả đất. Mỗi lần đêm buông xuống, đồng bào cả nước thấp thỏm lo âu cho Hà Nội. Khu tập thể An Dương vừa bị san bằng trong lúc mọi người đang ngủ say, thì tiếp đến bệnh viện Bạch Mai, khu phố Khâm Thiên bị phá huỷ tan thành. Người ta hỏi nhau: Rồi đêm nay, đêm mai, sẽ đế lượt phố phường nào đây? Nhưng rồi cứ sáng ra, cùng với mặt trời đang lên, Đài tiếng nói Việt Nam phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, lại dõng dạc truyền đi những tin chiến thắng trong đêm. Lại reo mừng, hả dạ, hả lòng! Bạn bè của chúng ta ở khắp năm châu bốn biển cũng cùng hoà chung một nhịp: những ngày đầu thì động lòng trắc ẩn, xót thương, lo lắng nhưng càng về sau thì càng phấn khởi reo mừng và khâm phục. Riêng đối với kẻ thù, thì trái lại, từ chỗ hí hửng huênh hoang lúc ban đầu, dần dần bị rỡi xuống chỗ ngạc nhiên, rồi bàng hoàng và thất vọng.
Ròng rã 12 ngày đêm chìm trong bão lửa, thực chất là trong hai trăm bốn mươi mốt tiếng đồng hồ, nếu trừ những ngày nững đánh, chịu đựng gần hai nghìn lần đánh trong tổng số bốn nghìn năm trăm lần cất cánh của không quân Huê Kỳ, riêng B.52 là 663 lần chiếc, số còn lại là không quân chiến thuật và máy bay hải quân-6 vạn tấn bom, mà Hà Nội vẫn vững vàng cứ hiên ngang, tươi đẹp như thế này ư?
Với cái vốn hiểu biết về khoa học quân sự mà Mỹ đã từng đánh giá là không cao lắm, nhân dân Việt Nam lại dám chấp nhận một kiểu chiến tranh điện tử, hiện đại nhất, bằng một sức mạnh tập trung cao độ, với B.52, một trong ba bảo bối mà Mỹ thườngh đưa ra để doạ loài người; với những máy bay hiện đại “cánh cụp cánh xoè”, như thế này ư? Ở đây chỉ có “diệt”, cứ gì phải “tìm”. Nào có ai ngờ.
Nhớ lại câu thơ của Bác: “Nghĩ rằng châu chấu đá xe, Tưởng là chấu ngã, ai dè xe nghiêng”.
Nhưng xe chẳng những nghiên mà thôi, mà con cháu của Bác đã dìm nó xuống tận bùn đen.
Tám mươi mốt máy bay hiện đại trong hai trăm bốn mươi mốt giờ chiến đấu. Dù công nghiệp quốc phòng Mỹ có mạnh đến đâu cũng không sản xuất kịp. Những tên giặc lái Mỹ hiện đang đứng đằng kia, và số chết bao nhiêu chưa rõ, là những cái có thể “đếm xác được”.
Có cái gì là lạ, mơi mới ở đây chăng.
Ta còn nhớ ngày 9 tháng 9 năm 1971, trong cuộc họp của Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, để nhận định tình hình và đề ra nhiệm vụ quân sự cho năm 1972, Đảng đã nói: Năm 1972, nếu có giải pháp thì “nó” sẽ rút hết, và nếu chưa, thì cũng có thể “nó” liều. Có thể “nó” sẽ tập trung không quân, đánh có trọng điểm trong một số ngày.
Theo tinh thần ấy, Quân uỷ Trung ương đã sớm chỉ thị cho các đơn vị: “B.52 không chỉ đánh ở miền Nam, đến mức độ nào đó, cũng có thể đánh vào thủ đô Hà Nội. Quân chủng Phòng không-không quân phải nghiên cứu kỹ đối tượng này”.
Thực hiện chỉ thị nói trên, quân chủng không những chỉ nghiên cứu trên lý thuyết, mà cả mặt thực hành. Mùa xuân năm đó, một số đơn vị tên lửa được đưa vào giới tuyến, tham gia chiến dịch Quảng Trị và trên đường mòn Hồ Chí Minh, với hai nhiệm vụ: vừa tác chiến tiêu diệt địch, vừa rút kinh nghiệm đánh pháo đài bay B.52. Kết hợp những kinh nghiệm chống chiến tranh phá hoại với những thực tiễn nóng hổi ở chiến trường, bảy tháng sau, cuốn sách “Cách đánh B.52” ra đời.
Một không khí thi đua sôi nổi dấy lên trong toàn quân, đặc biệt trong quân chủng Phòng không-Không quân. Từ cán bộ đến chiến sĩ, say sưa nghiên cứu, luyện tập, quyết tâm làm chủ mọi binh khí kỹ thuật có sẵn trong tay. Nếu có nhà sư phạm quân sự nào bảo rằng: người giáo viên dạy có kết quả nhất lại chính là kẻ đối kháng thì lời nói đó cũng không sai, nhất là khi những người đi thực tập lại nắm vững được đường lối chiến dịch nhân dân vô địch của Đảng và cũng khá thông minh để kết hợp nhuần nhuyễn những kinh nghiệm của Liên Xô vào thực tiễn Việt Nam.
Chúng ta đã chuẩn bị đón tiếp chúng như thế đấy. Bấy nhiêu thời gian chờ đợi, tưởng cũng đã quá lâu rồi.
Bị thất bại nặng trên các mặt, nhất là trên mặt trận quân sự, ngày 20 tháng 10 năm 1972, Kissinger, ngậm đăng nuốt cay, sau bốn năm tranh cãi, buộc phải cầm lấy bản dự thảo: “Hiệp định chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam” của phái đoàn ta trao cho ông ta.
Ba ngày sau, ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra.
Vì lẽ gì đây? Do thiện chí mong muốn hoà binh hay là để kiếm thêm vài lá phiếu của nhân dân Mỹ? Âm mưu cơ bản vẫn là vừa muốn thoát khỏi đường hầm chiến tranh, lại vừa muốn duy trì được quân đội Cộng hoà và chính quyền miền Nam Việt Nam đủ mạnh. Ngày 26 tháng 10 năm 1972, thấy có triệu chứng lật lọng, ta đã chủ động vạch mặt dối trá của Mỹ trong lúc Kissinger vẫn còn chối bai bải: “Hoà bình đã nằm ở trong tầm tay!”. Chỉ có giải thưởng Nobel về hoà bình thôi, còn thực tế chiến trường vẫn chưa tắt lửa. Một tuần sau đó, Nixon nghiễm nhiên bước vào Nhà trắng, nhiệm kỳ 2.
Cờ lại về tay. Ông ta càng tỏ ra ngang ngược, ngang nhiên đòi sửa đổi nhiều điều khoản có tính nguyên tắc của bản dự thảo hiệp định mà đôi bên đã thoả thuận từ trước. Kissinger thay mặt Nam Việt Nam, đưa ra 60 đề nghị sửa đổi văn bản-Bản thân Kitssinger 40 đề nghị. Ta không chấp nhận. Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ đề nghị gây sức ép với Hà Nội. Nixon điện cho ta: 72 giờ phải tán thành đàm phán.
Lại bế tắc! Giống như trò ảo thuật, ngoắc một cái củ cà rốt lại biến mất, cây gậy thò ra. Bản dự thảo hiệp định đã bị gác sang một bên, và thay thế vào đó là kế hoạch Linebacker 2. Một sự phối hợp “tuyệt đẹp” giữa ngoại giao và quân sự, theo kiểu Mỹ. Cái nọ là tín hiệu của cái kia.
Cả Nixon lẫn Kissinger, đều đinh ninh rằng: với đòn tập kích chiến lược này, vừa tập trung, vừa tàn bạo, lại vừa bất ngờ, đối phương chắc sẽ không kịp trở tay, choáng váng và sẽ chấp thuận. Nhưng ai choáng váng, ai bất ngờ?
Bao nhiêu năm trời phải đương đầu với đế quốc Mỹ, Đảng ta đã từng dự kiến rất chính xác mọi tình huống có thể xảy ra, và cùng không còn lạ gì cái bản chất cực kỳ phản động khét tiếng của tổng thống diều hâu, vốn thường ra những quyết định điên rồ. Những cuộc hành quân đánh sang Campuchia, sang đường 9 Nam Lào, chẳng đã chứng minh sao?
Hôm nay, đón những tù binh lặng lẽ về, có lẽ các cấp chỉ huy, tướng lĩnh Mỹ mới vỡ lẽ một điều: Quân đội nhân dân Việt Nam đã nắm chắc âm mưu thâm độc và xảo quyệt, bản chất lật lọng của đối phương, nắm chắc được mọi hành động, mọi công tác của từng quân binh chủng của Mỹ, trong quá trình chuẩn bị cho cuộc tập kích chiến lược bất ngờ này: từ lúc kế hoạch hãy còn thai nghén, đến lúc tàu chở máy bay tiếp dầu, bay qua bay lại nhộn nhịp, tập trung trên đất Thái Lan, và cũng không phải chỉ có thể, đến cả giờ mở màn, hình như cũng được biết trước.
Có gì lạ đâu? Mười tám giờ ba mươi phút ngày 18 tháng 12 năm 1972, khi Chính phủ ta nhận được công hàm của Mỹ đòi ta họp lại hội nghị Paris theo những điều kiện do họ áp đặt, hay nói cho đúng hơn, là một tối hậu thư, thì các chiến sĩ rađa của ta cũng đã phát hiện được B.52 trên màn hiện sóng. Vì vậy mà xông vào hướng nào cũng được đón tiếp rất giòn giã và rất xứng đáng.
Cứ theo như tù binh kể lại, thì Mỹ chắc mẩm phần thắng trong tay. Với 15 loại nhiễu trên một chiếc máy bay, với một đội hình chiến đấu rất vững chắc, có tiền hô, có hậu ủng, có giương đông, có kích tây, và bằng một thủ đoạn chiến đấu rất nham hiểm, sở trường, ngay từ phút mở đầu đánh phủ đầu vào sáu sân bay lớn trên miền Bắc, diệt trước lực lượng không quân ta, đồng thời đánh vào Đài phát thanh, hòng bịt miệng, không cho ta tố cáo trước thế giới hành động tàn bạo và đê hèn của họ, Việt Nam khó lòng đứng vững được. | |
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Hai, 2021, 11:00:23 am gửi bởi ptlinh » | Logged
|
|
|
|
Giangtvx Thượng tá  Bài viết: 25560 | 
| Re: Xuân giải phóng - Thiếu tướng Phan Hàm« Trả lời #1 vào lúc: 10 Tháng Hai, 2017, 05:47:44 am » |
Ngày đầu chúng nếm mùi thất bại quá nặng nề. Đêm 19 rạng ngày 20, sáu chiếc máy bay bị hạ trong đó 2 B.52. Đêm 20 rạng ngày 21, vọt lên 11 chiếc bị bắn rơi, có một B.52; đành phải thay đổi cách đánh: giãn hoạt động của B.52 ra vòng ngoài. Nhưng Đồng Mỏ, Thái Nguyên, Hải Phòng nào có chịu kém thủ đô giữa mùa chiến thắng.
Sáng ngày 22 tháng 12, Mỹ lại gửi công hàm, đề nghị ta họp lại theo nội dung đã thoả thuận trong tháng 10. Rõ ràng con ngoáo ộp đã bị ngấm đòn. Đến 24 giờ ngày 24 tháng 12, cuộc tập kích tạm ngừng. Nào phải đâu vì lòng ngoan đạo, mà con chiến Nixon không muốn cho Chúa thấy vào giờ Giáng sinh, những tội ác tày trời mà ông ta đã gây ra? Đây chẳng qua chỉ là mượn cớ xả hơi, hòng bổ sung thêm cho căn cứ Utapao một số B.52, vài chục tổ lái, để bù vào những thiệt hại vừa qua và lừa bịp dư luạn cho đỡ rát mặt.
Sáng ngày 22, trong lúc khói bom hãy còn đang mù mịt, đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra đến trận địa của tiểu đoàn 59 tên lửa, ngồi trong xe điều khiển, chăm chú nghe từng trắc thủ, từng cán bộ báo cáo rành rọt về trận đánh hôm qua, không bỏ sót một động tác nhỏ, một nhận xét nhỏ của mỗi người, mặc cho những “cánh cụp cánh xoè”, những “thần sấm con ma” gầm rít trên bầu trời, cố tìm diệt trừ các đối thủ đáng sợ trong đêm hôm trước.
Thượng tướng Văn Tiến Dũng thường xuyên chủ trì các cuộc họp với cán bộ trong Bộ Tổng tham mưu và Bộ tư lệnh quân chủng. Đồng chí biểu dương những thành tích, bổ sung nhận định và thẳng thắn vạch ra những điểm yếu cần khắc phục và cùng thảo luận để tỉma cách đánh có hiệu quả nhất. Đồng chí nói: “Địch bị tổn thất đau nhất từ năm 1964 đến nay, chúng đang bị choáng váng, bất ngờ trước sự đánh trả có hiệu quả của ta. Nhưng, tuyệt đối không được chủ quan, sức địch còn nhiều, chúng sẽ thay đỏi quy luật và thủ đoạn. Đối tượng chính của chúng hiện nay là tên lửa. Khi chưa trị được tên lửa, trước mắt, chúng đánh phá vòng ngoài để giảm bớt thiệt hại, nhưng chúng sẽ tổ chức lực lượng, để rồi tiếp tục đánh phá vòng trong nội thành. Những giặc lái trực tiếp lao vào khu vực này, nơi được bảo vệ vững chắc, thì hoang mang, lo sợ; nhưng những kẻ cầm đầu vẫn chưa cam chịu thất bại, chúng còn có những ý định liều lĩnh hơn, còn tập trung lớn hơn”.
Đồng chí khêu gợi cho cán bộ nghiên cứu tìm cách phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng, giao nhiệm vụ bảo vệ tên lửa, tạo điều kiện cho binh chủng này phát huy sức mạnh lâu dài. Những cuộc họp đầu bờ, những hội nghị chớp nhoáng như vậy, đã rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu về kỹ thuật, chiến thuật, chỉ huy hiệp đồng, thấy được những nhược điểm của từng loại máy bay ma từ trước đến nay ở các chiến trường khác, Mỹ chưa hề bộc lộc và từ đó cũng tìm ra được cách đánh của từng binh quân chủng của ta: tên lửa, không quân, cao xạ bộ binh và đến cả dân quân.
Điều mà các chiến sĩ không thể nào quên được là hình ảnh của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta. Từ những ngày đầu, tuy đã có kế hoạch di chuyển cơ quan lãnh đạo về nơi an toàn, nhưng rồi cũng chẳng có đồng chí nào chịu đi. Trong cơn bão lửa, cũng như lúc tạm ngừng, Bác Tôn, đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh, đồng chí Phạm Văn Đồng, vẫn đến những trận địa còn ngập mùi thuốc súng. Sự có mặt của các đồng chí là một niềm cổ vũ vô cùng to lớn đem đến những chiến công và cũng là một niềm an ủi đối với những đau thương và tổn thất.
Cho nên không có gì là khó hiểu khi thấy, ngày lại ngày, thành tích các đơn vị, các địa phương cứ phơi phới đi lên: trưa ngày 24, tổ dân quân trực chiến ở hướng Phà Đen hạ 1 F.111 bằng 21 viên đạn súng máy cao xạ chưa hẳn là diệu kỳ nhất; tối hôm ấy một đơn vị dân quân khác mới được thành lập, được trang bị bằng một loại pháo cao xạ cũ trong kho mới kéo ra, cũng hạ được một pháo đài bay ở Thái Nguyên, đêm 27 không quân ta đã rẽ mây len lỏi lọt qua máy bay hộ tống, vít cổ một pháo đài bay, và đêm 29, trước giờ kết thúc, Vũ Xuân Thiều, lại hạ một “thần sấm” trên núi rừng Tây Bắc. Toàn là những chiến công xưa nay chưa từng có.
Đánh giá về lực lượng phản kích của ta, nhiều tướng lĩnh Mỹ, nhiều nhà binh luận phương tây, đã không ngớt lời ca ngợi.
Cơn-oen, tham mưu trưởng không quân Mỹ đã viết: “Lực lượng phản kích của Việt Nam là đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những người lái của Mỹ chưa hề gặp”.
Cuối cùng, chính Taylor, cũng đã đi đến kết luận: ”Sức mạnh không quân là một sự yểm trợ, nhưng nó không thể quyết định việc chặn đứng những con người kiên quyết chiến đấu trên mặt đất… Chúng ta đã không đánh giá đúng tinh thần cực kỳ kiên quyết và đức tính hy sinh vì sự nghiệp của người Việt Nam…” |
|
|