Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

XUỐNG ĐỒNG BẰNG

Sau thắng lợi của Chiến dịch Nguyễn Huệ, Sư đoàn 5 tiếp tục được điều động thần tốc xuống chiến trường đồng bằng sông Cửu Long để mở hướng hoạt động mới tại Kiến Tường, Kiến Phong, Long An và Mỹ Tho. Trên cương vị Tham mưu phó Sư đoàn, tác giả trực tiếp tổ chức hành quân, xây dựng kế hoạch tác chiến, chỉ huy các đơn vị bám trụ vùng sâu, giữ vững vùng giải phóng trong bối cảnh Hiệp định Paris được ký kết nhưng quân đội Sài Gòn vẫn ráo riết lấn chiếm. Năm 1973, Sư đoàn thực hiện cuộc hành quân chi

Lai Châu03/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trải qua hơn một tháng chiến đấu trong chiến dịch Nguyễn Huệ trên địa bàn Bình Long, tôi đã góp phần phục vụ cho Sư đoàn chiến đấu trên 20 trận lớn nhỏ, tiêu diệt Chiến đoàn 9, Trung đoàn 1 thiết giáp ngụy, đánh thiệt hại Tiểu đoàn 74 biệt động quân, 2 tiểu đoàn lính dù... loại khỏi vòng chiến đấu trên 5.000 tên địch, bắt sống trên 1.900 tù binh, thu nhiều xe, pháo và súng đạn. Điều quan trọng hơn cả là giải phóng hoàn toàn huyện Lộc Ninh, trở thành trung tâm vùng giải phóng Đông Nam Bộ với trên 35.000 dân.

Sau trận Núi Gió, đang ở sân bay Técnich thì tôi nhận được điện của anh Sáu Khâm từ tiền phương Bộ Tư lệnh Miền: “Sẵn ở sân bay Técnich Năm Hưng lấy số bản đồ hướng nam. Ngày thứ tôi, thứ Năm Hưng cộng lại, nhân đôi có mặt tại 301 nhận nhiệm vụ”.

Anh nói mật: thứ tôi (Sáu Khâm) là thứ 6, Năm Hưng là thứ 5, cộng lại là 11, nhân đôi thành 22, tức là ngày 22. Sẵn kho bản đồ của địch ở Técnich tôi lựa hết bản đồ Dầu Tiếng, Nam Bến Cát cho tới Trảng Bàng mang về. Vì tôi tính, hướng nam là hướng này, hơn nữa Sư đoàn trưởng đang đi chuẩn bị chiến trường hướng này.

Về đến Sở chỉ huy tiền phương 301 (Bộ Tư lệnh Miền), suy nghĩ ban đầu của tôi sai hết. Lệnh của Bộ Tư lệnh Miền: “Sư đoàn 5 thọc xuống đồng bằng Kiến Tường, Kiến Phong, Long An, Mỹ Tho... Phải hành quân gấp và bằng mọi phương tiện”.

Không khỏi ngỡ ngàng! Trong lúc Bộ chỉ huy Sư đoàn còn ở dưới Dầu Tiếng, tôi tổ chức hành quân cấp tốc theo lệnh của Bộ Tư lệnh Miền.

Tiểu đoàn trinh sát xuất phát từ Kàchay theo đường 7 trưng dụng xe hơi, xe máy kéo rơmooc và xe hậu cần Miền tăng cường, hành quân suốt ngày đêm xuống Tànu, biên giới giáp tỉnh Svayriêng (Campuchia) tới Mộc Hóa - Kiến Tường, đoạn đường dài trên 200 km. Sau đó, tôi tổ chức cho Trung đoàn 2 và 3 cũng lần lượt hành quân về biên giới Kiến Tường bằng mọi phương tiện: xe lam, xe lôi, xe hơi, xe vận tải, Honda, đến Congpongtrapet, Chiphu tỉnh Svayriêng...

Giữa tháng 6 năm 1972, toàn đội hình chiến đấu của Sư đoàn 5 đã tập kết ở tỉnh Svayriêng sát biên giới Kiến Tường, Kiến Phong, Long An và tiến hành chuẩn bị mọi mặt: về tư tưởng, tổ chức, vật chất, nhất là xuồng để cơ động vì từ tháng 6 đến tháng 8, thọc xuống còn cơ động bộ được nhưng từ tháng 10 trở đi nước ngập, chỉ có thể cơ động nhỏ bằng xuồng. Trong lúc đội hình lớn của Sư đoàn 5 muốn xuống đồng bằng còn phải bao vây và kìm chế các đồn biên phòng của địch như Long Khốt, Gò Măng Đa ở Vĩnh Hưng.

Bước vào đợt thọc sâu xuống đồng bằng từ tháng 6 đến tháng 8, Trung đoàn 2 mở đợt hoạt động biên giới, mở màn đánh Long Khốt, pháo kích Gò Măng Đa. Đơn vị tên lửa vác vai A72 phục kích bắn máy bay trinh sát ở biên giới. Trung đoàn 3 thọc xuống vùng 4 Kiến Tường. Trung đoàn 1 thọc thẳng xuống nam lộ 1, Vĩnh Kim - Mỹ Tho. Chỉ huy Sư đoàn và Sư đoàn bộ xuống đứng ở vùng 4 Kiến Tường, phối hợp cùng lực lượng địa phương khu 8 mở rộng vùng Cái Bè, mở rộng mảng biên giới Hồng Ngự. Các trận điển hình như diệt đồn Thày Yến, diệt địch đóng ở chùa Phật Đá, kinh Nguyễn Văn Tiếp... Trên tuyến biên giới, Trung đoàn 2 giữ phía sau, đánh bọn Lonnon đạt hiệu suất cao, bảo đảm hậu phương của Sư đoàn.

Từ “anh lính rừng già” làm "lính đồng bằng”, thiếu đạn dược và lương thực, ăn ở đi lại chỉ có đồng lầy trong lúc pháo kết hợp bộ binh địch đánh phá ác liệt, hoàn cảnh mới với không ít khó khăn, gian khổ mới. Tuy nhiên, Trung đoàn 1 cũng như Trung đoàn 3 cùng tiền phương chỉ huy của Sư đoàn vẫn kiên cường bám trụ, cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Kiến Tường, Mỹ Tho chiến đấu quyết liệt.

Những ngày chiến đấu ở vùng sâu là những ngày Sư đoàn 5 bộ binh bị tổn thất lớn. Trong những ngày này, tôi và các anh trong cơ quan tham mưu Sư đoàn xuống từng đơn vị để tìm ra phương thức chiến đấu tốt nhằm hạn chế tổn thất cho đơn vị.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Pari được ký kết. Mỹ cam kết tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu về nước, không can thiệp vào nội bộ miền Nam Việt Nam.

Được tin Hiệp định ký kết, tôi vẫn bán tín, bán nghi. Mỹ rất xảo quyệt, chúng không dễ dàng bỏ cuộc. Tuy nhiên, Mỹ rút quân là chuyện có thật, chẳng đặng đừng. Nhưng chúng lại tăng cường viện trợ tiền bạc vũ khí cho ngụy để Việt Nam hóa chiến tranh. Ngụy đang hùng hổ hô hào bình định, bung ra hòng chiếm lại các vùng giải phóng của ta, cố sức xóa thế da beo, thế xen kẽ giữa ta và địch.

Tôi đã cùng Bộ chỉ huy Sư đoàn xoay sở chỉ đạo Trung đoàn 3 và Trung đoàn l đánh trả địch trên khắp chiến trường vùng 4 Kiến Tường, chùa Phật Đá, Cai Lậy, kinh Dương Vân Dương, kinh Bà Trần, kinh 12... giữ vững vùng giải phóng.

Sau một năm dừng chân ở đồng bằng, tháng 6 năm 1973, sư đoàn được lệnh Bộ Tư lệnh Miền hành quân về Đồng Pan tỉnh Tây Ninh. Hành quân xuống đồng bằng đã khó, hành quân băng Đổng Tháp Mười ngược về Tây Ninh càng khó hơn.

Với tư cách là cơ quan tham mưu, tôi nêu các vấn đề cần phải giải quyết ngay như:

- Phải hết sức bí mật với địch đã đành, phải bí mật với cả dân nữa.

- Xuống đồng bằng phải hành quân thần tốc 2 đêm: nay về, chỉ được đi trong 1 đêm.

- Xuống, hành quân cấp tiểu đoàn, về phải hành quân cấp sư đoàn thiếu.

- Các mặt bảo đảm phải hết sức chu đáo, chặt chẽ, nhất là bảo đảm phòng không và chặn địch các hướng khi lộ đội hình.

Thật táo bạo, mạo hiểm khi đội hình Sư đoàn băng qua cánh đồng Đồng Tháp Mười từ vùng 4 Kiến Tường về biên giới Campuchia. Nhưng không có cách nào khác hay hơn, tốt hơn.

Bộ chỉ huy Sư đoàn giao cho thủ trưởng và cơ quan tham mưu làm kế hoạch cụ thể và chỉ đạo thực hiện. Việc đầu tiên, để nghi binh, tôi cho một tiểu đoàn của Trung đoàn 3 do Trung đoàn phó Tám Luông chỉ huy vận tải từ biên giới Campuchia xuống khu 8, liên tục như vậy hơn nửa tháng để cho địch thấy là lực lượng vận tải không đáng kể, chúng sẽ không chú ý đến đường đi. Kế đến, hợp đồng với lực lượng địa phương kế hoạch ém hết các đồn bốt. Đúng 21 giờ đêm, đơn vị hành quân phải có mặt ở tất cả mục tiêu, sẵn sàng đánh phá hoại để nghi binh, thu hút địch.

Khi bộ đội ở đồng bằng, cá nhiều, đơn vị nào cũng có hầm cá dự trữ, để nghi binh trong dân. Ngày hành quân, phải gửi hầm cá cho dân, không được cho, không được bán, chỉ nói vài bữa nữa sẽ trở về lấy.

Toàn tiểu đoàn trinh sát bí mật hành quân trước, chốt hết các đầu mối trọng điểm.

Ngày hành quân, toàn bộ lực lượng tên lửa vác vai - loại bắn máy bay trực thăng - đều trong tư thế sẵn sàng chiến đấu đi trong đội hình Sư đoàn.

Công tác chuẩn bị chỉ trong vòng hơn 20 ngày, kể cả nghi binh vận tải.

16 giờ ngày 25 tháng 6, toàn Sư đoàn xuất phát. Khoảng chập tối là rời khỏi vị trí đóng quân, từ vùng 4 Kiến Tường băng đồng, hàng ba, hàng tư lội bưng hướng về biên giới Tà Nu (Campuchia), đi liên tục không được nghỉ; đói ăn cơm vắt, khát vừa đi vừa uống; người khỏe mang giúp cho người yếu.

Tất cả đều nỗ lực, cứ như thế Sư đoàn rầm rập hành quân. Sau 16 tiếng đồng hồ hành quân liên tục, khoảng 8 giờ sáng hôm sau, đội hình Sư đoàn đặt chân đến biên giới Campuchia - Việt Nam an toàn.

Đối với người làm công tác tham mưu như tôi, cuộc hành quân này là một kỷ niệm khó quên.

Về Đồng Pan, Tây Ninh, một vùng giải phóng rộng sau chiến dịch Nguyễn Huệ, Sư đoàn như hổ về rừng, bắt tay ngay vào việc củng cố tổ chức, bổ sung quân số, bổ sung trang bị; ổn định tư tưởng đơn vị; tiến hành xây dựng doanh trại; chuẩn bị cho đợt huấn luyện mới.

Cuối năm 1973, Sư đoàn đã có chỗ ăn ở tươm tất, với hơn 70 căn nhà ở, 5 hội trường cấp trung đoàn và sư đoàn, 3 sân bóng đá, 16 sân bóng chuyền, nhiều thao trường chiến thuật và các công trình sinh hoạt khác.

Không khí sư đoàn thật sôi nổi.

...Nhớ lại lúc bất đầu chuẩn bị chiến dịch Nguyễn Huệ, tôi đang họp Đảng ủy ở Kàchay, Mimốt để thông qua kế hoạch tiêu diệt Chi khu Lộc Ninh thì anh Hai Hồng Lâm từ T1 về họp ở Bộ Tư lệnh Miền dẫn vợ tôi theo lên. Anh đưa vợ tôi vào thẳng cơ quan Sở chỉ huy Sư đoàn đang họp. Chào hỏi mọi người xong, anh nói:
- Năm Hưng nay là lính của Miền (R) rồi, khó về lại Quân khu 7 (T1). Tôi đưa vợ Năm Hưng lên. Các đồng chí bố trí công tác cho gần Năm Hưng.

Thật bất ngờ với tôi, và càng thấm thìa nghĩa tình của anh.

Mấy ngày vợ tôi ở lại Sư đoàn, vợ chồng có dịp tâm sự với nhau. Tôi rất thương cảm cho vợ phải gian truân chịu đựng sự ác liệt của bom đạn, đói vì địch phong tỏa, bụng mang thai đứa con thứ 2 của chúng tôi (cháu Nguyễn Nam Hải bây giờ), gạo không có ăn, phải ăn lá bép, măng rừng... thức ăn không có, mang bầu xuống suối bắt được con cua, con nhái, bỏ vào lon sữa bò kho lên với mấy hạt muối (muối cũng hiếm) để ăn dưỡng thai!... Sanh xong, không có một hạt gạo. Anh Tư Mậu (Chính trị viên Tiểu đoàn 1 Trung đoàn 4) gửi cho 3 lon bột mỳ còn viết thư dặn: "Bột mỳ mốc, chị cho cháu ăn coi chừng phá bụng!...”.

Chiến trường miền Đông gian khổ và ác liệt vậy đó... Nhưng rồi với tính tự trọng hão - đúng hơn vì sĩ diện - tôi gặp anh Út Tùng, trưởng đoàn hậu cần 230 của Miền đề nghị anh nhận vợ tôi về Đoàn hậu cần Miền mà không để công tác ở Sư đoàn, út Tùng, anh Nguyễn Phương Tùng là người anh, người đồng chí dẫn dắt tôi từ buổi ban đầu ở Chi đội 25. Anh hiện nghỉ hưu ở cư xá Bắc Hải, đã ngoài 80 tuổi.
Anh Út Tùng cũng là người đầy nghĩa tình như anh Hồng Lâm. Anh nói:

- Được. Cứ giao anh lo.

Vợ tôi được anh út cử về làm Phó trạm xá của Đoàn. Cũng thời gian này, vợ tôi cấn thai con gái út của chúng tôi bây giờ. Cháu sinh vào tháng 11 năm 1973.

Khi Sư đoàn rút quân từ đồng bằng về Đồng Pan, chỉ đến lúc ấy tôi mới xin cho vợ tôi về Quân y Sư đoàn để dễ bề chăm sóc con nhỏ. Vợ tôi về Quân y Sư đoàn từ đó cho đến kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
XUỐNG ĐỒNG BẰNG | Câu chuyện thời hoa lửa