YẾT KIÊU – HUYỀN THOẠI "KÌNH NGƯ" DƯỚI LÒNG SÔNG ĐẠI VIỆT
Tác giả: Phạm Thị Hồng Nhung
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông thế kỷ XIII, bên cạnh những thiên tài quân sự của triều đình, hào khí Đông A còn được thắp sáng bởi những người anh hùng có xuất thân bình dân. Tiêu biểu nhất trong số đó là Yết Kiêu, người gia nô trung thành của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông đã đi vào lịch sử như một huyền thoại thủy chiến, một "kình ngư" độc nhất vô nhị làm khiếp đảm hàng vạn quân thù.
Người con của sông nước và tài bơi lặn phi thường
Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế, sinh năm 1242, quê ở làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước đồng bằng Bắc Bộ, từ thuở nhỏ ông đã bộc lộ khả năng bơi lặn phi thường. Sách sử ghi lại, ông có thể lặn sâu dưới nước suốt cả ngày đêm mà không cần ngoi lên mặt nước, di chuyển nhẹ nhàng và nhanh nhẹn như loài thủy tộc.
khi quân Nguyên Mông tràn sang xâm lược nước ta, với lòng yêu nước nồng nàn, Phạm Hữu Thế đã đầu quân dưới chướng của Quốc công Tiết chế Trần Hưng Đạo. Nhận thấy tài năng đặc biệt của ông, Trần Hưng Đạo đã trọng dụng và đặt biệt danh cho ông là Yết Kiêu (tên một loài cá kình lớn thời hiển hiện trong truyền thuyết). Ông cùng với Dã Tượng trở thành hai cận vệ thân tín, là đôi cánh tay đắc lực của vị chủ soái nhà Trần.
Những chiến công thầm lặng dưới đáy sông
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287-1288), quân giặc viễn chinh với hàng trăm chiến thuyền lớn nhỏ nghênh ngang trên các ngả sông Đại Việt. Đối phó với thế mạnh thủy quân của giặc, Yết Kiêu đã đề xuất và thực hiện một chiến thuật độc đáo: thủy chiến du kích ngầm.
Khi màn đêm buông xuống, không gian tĩnh mịch bao trùm các khúc sông nơi quân địch đóng doanh trại, Yết Kiêu cùng các chiến sĩ thủy quân lặng lẽ trần mình lặn xuống dòng nước lạnh giá. Ông ngậm ống sậy để thở, một tay cầm búa, một tay xách đục, nhẹ nhàng tiếp cận mạn thuyền giặc. Với sự khéo léo và chuẩn xác, ông đã đục thủng các khoang thuyền rồi nhét giẻ vào. Khi hàng loạt chiếc thuyền bị đục xong, ông đồng loạt rút giẻ ra, khiến nước tràn vào làm thuyền giặc lật úp, chìm nghỉm giữa đêm tối.
Chiến thuật này đã gieo rắc nỗi kinh hoàng tột độ cho quân Nguyên. Giặc không hiểu vì sao thuyền của mình tự dưng bị đắm, nhiều binh sĩ chết đuối mà không hề thấy bóng dáng quân Trần. Hàng chục chiến thuyền bọc đồng kiên cố cùng rất nhiều lương thảo, vũ khí của giặc đã bị bẻ gãy và nhấn chìm dưới lòng sông nhờ cái tài và sự dũng cảm của Yết Kiêu.
Tấm lòng trung kiên vô hạn với giang sơn
Trong một lần thực hiện nhiệm vụ đục thuyền giặc trên sông, do quân địch tăng cường cảnh giác và giăng lưới bao vây, Yết Kiêu đã không may bị bắt sống. Kẻ thù dùng mọi biện pháp từ dụ dỗ đến tra tấn dã man để ép ông khai ra cách thức đục thuyền và vị trí đóng quân của triều đình nhà Trần.
Đứng trước lưỡi gươm của giặc, Yết Kiêu vẫn giữ phong thái ung dung, hiên ngang. Để đánh lừa quân thù, ông bảo: "Nước Nam ta có rất nhiều người bơi lặn giỏi như tôi. Tôi chỉ là kẻ tài hèn sức mọn nhất. Nếu các ông thả tôi ra, tôi sẽ dẫn các ông đi bắt họ". Giặc tin lời, liền trói ông trên một chiếc thuyền nhỏ để đi tìm các toán quân khác. Lợi dụng lúc sơ hở của giặc, Yết Kiêu bất ngờ tung mình lặn sâu xuống dòng nước, trốn thoát một cách ngoạn mục trong sự ngơ ngác, bất lực của kẻ thù.
Ông trở về, tiếp tục sát cánh cùng Hưng Đạo Vương chiến đấu cho đến ngày đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược.
Tượng đài bất tử của lòng trung nghĩa
Yết Kiêu mất năm 1303, hưởng thọ 61 tuổi. Cuộc đời ông là một bài ca tráng lệ về lòng trung thành vẹn toàn và tinh thần xả thân vì nghĩa lớn. Ông không chỉ là một danh tướng thủy quân xuất sắc mà còn là biểu tượng của trí thông minh, lòng quả cảm của người dân lao động Đại Việt.
Học tập tinh thần của anh hùng Yết Kiêu, thế hệ trẻ hôm nay – đặc biệt là các chiến sĩ hải quân và chiến sĩ cảnh sát biển Việt Nam – đang ngày đêm canh giữ, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Tên tuổi của ông sẽ mãi là ngọn hải đăng soi sáng cho lòng yêu nước và ý chí bảo vệ giang sơn của dân tộc Việt Nam.



