QUẢN TRỊ | AI CỦA ĐOÀN

Tổng hợp tất cả những câu chuyện về nhân vật nổi bật

Trung tướng Đặng Kinh

Tác giả Nguyễn Khánh Đăng
Chia sẻ

Đặng Kinh

1922

Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Mô tả ngắn

Thông tin đang cập nhật

Bài viết

Trung tướng Đặng Kinh

Trung tướng Đặng Kinh (tên thật là Đặng Văn Rợp) sinh năm 1922 trong một gia đình nông dân nghèo tại xã Bắc Sơn, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng. Năm 1933, ông đã phải làm phu mỏ ở Quảng Ninh. Năm 1937, ông trở thành người liên lạc của nhà cách mạng Tô Hiệu, nguyên Bí thư Thành ủy đầu tiên của thành phố Hải Phòng. Chính Tô Hiệu là người đã dìu dắt ông đến với con đường cách mạng giành độc lập tự do cho dân tộc. Vốn liếng tiếng Pháp của tướng Đặng Kinh cũng là do học từ nhà cách mạng Tô Hiệu.

Năm 1941, ông tham gia Mặt trận Việt Minh và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản tháng 7/1944. Ngay sau đó, ông nhận lệnh lên Thái Nguyên học quân sự 15 ngày cùng với ông Văn Tiến Dũng.

Tháng 11/1944, ở Tân Phong, Kiến Thụy (Hải Phòng) diễn ra một cuộc họp của Xứ ủy Bắc Kỳ dưới sự chỉ đạo của nhà cách mạng Mai Côn-cán bộ Xứ ủy. Mặt trận liên tỉnh Hải Phòng-Kiến An được thành lập Ban Chỉ huy Mặt trận gồm bảy người trong đó có ông.

Ngày 12/7/1945, sau một cuộc mít-tinh tại Kim Sơn, Kiến Thụy Mặt trận liên tỉnh tuyên bố thành lập ở đây chính quyền nhân dân đầu tiên của vùng duyên hải. Trước tình hình đó, ngày 4/8/1945, từ Hải Phòng, quân Nhật đưa hai xe Cam-nhông chở lính có trang bị súng cối đánh vào Kim Sơn. Đây cũng là trận chiến đấu đầu tiên ông tham gia và chỉ huy. Quân ta chỉ có hai khẩu súng trận, hai khẩu súng săn, nhưng súng trận không có đạn, súng săn bắn đạn ria chỉ làm quân Nhật bị thương. Ta phải dùng mã tấu, võ thuật, nấp sau cổng làng, lũy tre đánh giáp lá cà với quân Nhật, đến trưa quân Nhật phải lui. Đó là trận đánh mở đầu để từ đó xây dựng mô hình làng chiến đấu mà sau này được áp dụng rất thành công trong cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp (1945-1954)..

Sau trận đánh, ông Mai Côn đi họp ở Tân Trào, ông cùng các đồng chí của mình ở lại lập một đại đội do ông chỉ huy, dự định ngày 15/8 giành chính quyền. Đêm ngày 14/8, hai tiểu đội của đại đội bò vào Phủ Kiến Thụy giành chính quyền thu 12 súng. Ngày hôm sau, 2 tiểu đội trên tiếp tục mang súng lấy được, hành quân sang giải tán Phủ Tiên Lãng. Ngày 20/8, Hà Nội giành chính quyền, ông và các đồng chí của mình họp quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa. 18 giờ chiều hôm đấy, đội tiến vào dinh Tỉnh trưởng Kiến An rồi ngày 23 tiến quân sang Hải Phòng. Chính quyền Kiến An, Hải Phòng đều thuộc về tay nhân dân.

Giữa năm 1946, ông được điều về làm Chỉ huy trưởng huyện đội Kiến Thụy kiêm Chỉ huy trưởng du kích tỉnh Kiến An. Ngày 20/11/1946, quân Pháp gây hấn ở Hải Phòng, nắm được tình hình từ Hải Phòng ông báo cáo với Tỉnh ủy Kiến An để tổ chức luyện quân chuẩn bị chống Pháp. Đồng thời ông xin lãnh đạo Tỉnh ủy cho chỉ huy một đại đội sang An Dương, Đường 5 để đánh quân Pháp. Ngày 28-11, quân Pháp đưa một đại đội tấn công thăm dò trận địa của đại đội ông đang chốt ở Cam Lộ, Thiết Chanh. Ông đã chỉ huy đại đội đón đánh làm thương vong một nửa, nửa còn lại bỏ chạy. Đại đội ông thu một trung liên, một tiểu liên và 12 khẩu súng trường. Những ngày sau đó cho đến 10-12, đại đội của ông liên tiếp tham chiến và trận cuối cùng trước ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, đại đội ông đánh với một tiểu đoàn quân Pháp, diệt 126 tên địch, ta hi sinh 3 người, bị thương 5 người.

Từ năm 1949 - 1954, ông là Chỉ huy phó rồi Chỉ huy trưởng, Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Kiến An. Tháng 5/1954, ông là Thành đội trưởng Thành đội Hải Phòng. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, ông đã khiến cho quân Pháp khiếp sợ suốt một vùng tả ngạn sông Hồng với những chiến công lừng lẫy trên đường 5 tạo nên ‘’Sấm đường 5’’. Đặc biệt ông là người chỉ huy trận đánh sân bay Cát Bi. Đây là trận tập kích của 32 bộ đội địa phương Kiến An vào sân bay Cát Bi (Hải Phòng). Bằng kĩ thuật tiềm nhập, các chiến sĩ đã vượt qua 2 tuyến phòng thủ của 5 tiểu đoàn (có 4 tiểu đoàn Âu, Phi), dùng bộc phá, phá huỷ 59 máy bay, 1 kho bom. Cùng với trận Gia Lâm, trận Cát Bi gây tổn thất nghiêm trọng cho không quân Pháp, ảnh hưởng lớn đến việc chi viện đường không cho các chiến trường, đặc biệt cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Từ tháng 1/1955, ông lần lượt giữ các chức vụ Tham mưu phó rồi Phó Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn kiêm Sư đoàn trưởng Sư đoàn 328. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, từ năm 1960 - 1965, ông là Cục phó Cục tác chiến Bộ Tổng tham mưu rồi Cục trưởng Cục liên lạc đối ngoại Bộ Quốc phòng. Tháng 4/1966, ông là Phó Tư lệnh Quân khu Trị Thiên. Tháng 4/1968, ông là Tư lệnh Quân khu Tả Ngạn.

Đất nước thống nhất, tháng 3/1977, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục xây dựng kinh tế Bộ Quốc phòng. Từ năm 1978 - 1988, ông là Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu.

Với những thành tích trong quá trình công tác, ông được Nhà nước phong quân hàm Thiếu tướng (1974), Trung tướng (1982) và được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công (2 hạng Nhất, 1 hạng Nhì)...

 

Thư viện ảnh

Chưa có ảnh trong thư viện.

Video / Phóng sự

Chưa có video/phóng sự.

Audio / Podcast

Chưa có audio/podcast.

NHỮNG CÂU CHUYỆN KHÁC

Thông tin đang cập nhật

Vầy A Nhì-Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Vầy A Nhì-Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

Thông tin đang cập nhật

NSƯT Phùng Đệ Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử Phùng Đệ

Thông tin đang cập nhật

Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử - Bùi Văn Ngọc

Thông tin đang cập nhật

Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử - Bùi Đức Hy

Thông tin đang cập nhật

Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử - Lê văn Chín