10/04/2014 Chiếc huy hiệu Bác Hồ tặng người Anh hùng đào đường hầm trên đồi A1
Chiếc huy hiệu Bác Hồ tặng người Anh hùng đào đường hầm trên đồi A1M83 là Đại đội công binh đặc biệt nhất trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam. Bởi tất cả 25 “chiến sĩ” trong đại đội đều là cán bộ cấp tiểu đội trở lên, được tuyển chọn kỹ và phải trải qua 5 tháng huấn luyện bổ sung chỉ để làm một nhiệm vụ duy nhất: đào một đường hầm bí mật và đặt khối thuốc nổ “nghìn cân” trong lòng cứ điểm A1 trong chiến dịch Điên Biên Phủ.
Vào hồi 20h30 ngày 6- 5-1954, khối bộc phá đã phát nổ làm rung chuyển cả ngọn đồi, làm tan xác cả một đại đội địch, số quân địch còn lại choáng váng. Thừa cơ, Trung đoàn 174 đánh chiếm toàn bộ cứ điểm A1 lúc 4 giờ 30 phút ngày 7-5-1954. Tiếng nổ của khối bộc phá cũng chính là hiệu lệnh tổng công kích đợt cuối cùng của chiến dịch Điện Biên Phủ. A1 là đồn cũ của Pháp xây dựng từ năm 1940. Năm 1945 sau đảo chính, Nhật tu sửa thêm, Pháp cải tạo lại củng cố xây dựng thành một cứ điểm vững chắc nằm trong khu đề kháng Ê-li-an, gồm các điểm cao A1, A2,A3, C1, C2 . Đó là những ngọn đồi phía đông sông Nậm Rốm tạo thành một bức tường thành thiên nhiên che chở cho trung tâm chỉ huy Mường Thanh của quân Pháp, trong đó A1 có tầm quan trọng bậc nhất. Đối với ta, chiếm được A1, ta có thể uy hiếp mạnh mẽ khu trung tâm, thắt chặt vòng vây khống chế vùng trời, thu hẹp phạm vi thả dù tiếp tế của địch, tiến tới triệt hẳn đường tiếp tế hàng không của chúng. A1 còn là bàn đạp rất tốt để cho quân ta dùng pháo bắn thẳng, ĐKZ, đại liên yểm hộ cho bộ binh vượt cầu Mường Thanh tiến vào khu trung tâm. Tính đến trung tuần tháng 4 năm 1954, trải qua 2 đợt tiến công với 36 ngày đêm chiến đấu căng thẳng, quyết liệt giành giật từng tấc đất với địch trên đồi A1, ta vẫn không chiếm được hoàn toàn A1. Địch dựa vào hệ thống hầm ngầm kiên cố, nhiều vũ khí, đạn dược chúng vẫn chiếm giữ được một nửa phía tây đồi A1, gây cho ta nhiều khó khăn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhiều lần trao đổi trong cơ quan tham mưu tìm cách đánh chiếm điểm cao A1. Có chiếm được A1, ta mới có thể tạo điều kiện cho bộ đội tiến công tiêu diệt hoàn toàn quân địch ở Điện Biên phủ. Công binh đề nghị đào một đường hào men theo đường 41, tách rời A1 với A3, cũng là cắt đứt đường tăng viện của quân Pháp. Trung đoàn 174 đề nghị đào thêm một đường hầm từ trận địa tại A1 tới dưới hầm ngầm của địch, đưa một lượng thuốc nổ lớn vào phá công sự ngầm của địch trong lòng đồi A1. Phương án đào hầm ngầm vào sâu trong lòng đồi tới tận chân lô cốt địch để đánh bộc phá được Bộ chỉ huy mặt trận thông qua. Một trong những người đào hầm để đưa khối bộc phá lên đồi A 1 là Lưu Viết Thoảng, Tiểu đội trưởng, Tổ trưởng đảng của Đại đội Công binh M83. Ông cũng chính là một trong số 3 người tham gia điểm hỏa khối bộc phá làm rung chuyển đồi A1 ngày ấy. Ông kể lại: Đơn vị thực hiện nhiệm vụ đào hầm ngầm và đánh bộc phá là Đại đội công binh M83 của Trung đoàn công binh 151 thuộc Đại đoàn 351. Đại đội công binh M83, không phải là đại đội công binh bình thường mà là đại đội công binh đặc biệt gồm 25 cán bộ cấp tiểu đội trở lên, được tuyển chọn kỹ từ Trung đoàn công binh 151. Tất cả đều được huấn luyện kỹ về bộc phá, từng trải qua chiến đấu, nhiều người đang là cán bộ chỉ huy, tình nguyện về làm “chiến sĩ” ở Đại đội 83. Tuy đều là những “công binh thiện nghệ” nhưng tất cả phải trải qua lớp huấn luyện bổ sung, học lại về thuốc nổ, hỏa hệ, hỏa cụ, nhất là truyền nổ dưới đất, dưới nước. Họ ôn lại về cơ công, thiết công, ngõa công, mộc công, thổ công; lại rèn thêm để biết giũa, cắt, rèn, đục, cưa xẻ, đào đất; học cả nấu thuốc nổ, đúc khối thuốc… để có thể hoạt động độc lập. Đại đội 83 bắt đầu tập trung huấn luyện từ tháng 11-1953, tính đến ngày nhận nhiệm vụ đào đường hầm và nổ quả “bộc phá nghìn cân” thì toàn đại đội trải qua hơn 5 tháng huấn luyện nên trình độ tác chiến rất cao. Đồng chí Nguyễn Phú Xuyên Khung, cán bộ công binh của Bộ, trực tiếp chỉ huy. Công việc đào hầm được tiến hành từ chập tối ngày 20-4-1954. Vị trí đào cửa hầm chỉ cách địch hơn 10 mét. Việc đào hầm chỉ tiến hành ban đêm. Điều khó khăn nhất của nhiệm vụ này là phải giữ được bí mật tuyệt đối, không thể để địch phát hiện ra, thậm chí nghi ngờ. Tiểu đội trưởng Lưu Viết Thoảng lựa chọn một tổ gồm những anh em khỏe nhất mở cửa hầm. Khi đào hầm, bộ đội ta phải nằm ngửa, chân hướng vào lô cốt địch, đào từng tý đất một, đất đào được bỏ vào túi may bằng vải dù thu được của địch chuyển ra ngoài. Đất đồi A1 rất rắn, nhưng với sự cố gắng, khắc phục khó khăn, bốn tiếng sau miệng hầm ngầm hình vuông 90 cm x 90 m được hình thành. Miệng hầm chỉ đủ để người đào ngồi bệt, dang hai chân lấy tư thế cuốc đất. Trong lúc các chiến sĩ công binh lặng lẽ đào thì hoả lực của địch từ trên đỉnh đồi A1 bắn rất rát, đèn pha và pháo sáng soi rõ từng ngọn cây, cọng cỏ; nhiều chiến sĩ hy sinh trong quá trình yểm trợ, bảo vệ cho đội đào hầm. Khi hầm được khoét sâu khoảng được 10 mét, thiếu không khí các chiến sĩ ai cũng khó thở, buộc phải phân chia thành các nhóm thay phiên đào đất, dùng quạt nan quạt để lưu thông không khí. Ông Lưu Viết Thoảng kể: Không ai được ngồi, ngoài người đào đất, xúc đất. Người ngồi phía sau cũng phải gập người để quạt và để kéo túi đất nặng 25-30 kg ra ngoài và còn để không khí lọt vào. Anh em đề ra một nguyên tắc: "Người nghỉ nhưng cuốc xẻng không nghỉ". Mặc cho gian khổ hy sinh, vượt lên tất cả, trải qua 16 đêm không nghỉ, các chiến sỹ ta đã hoàn thành một đường hầm dài 49 mét. Chiều và đêm ngày 4 tháng 5 năm 1954, khối bộ phá 960 kg đã được đặt vào cuối đường hầm. Sự dũng cảm quên mình của 25 chiến sỹ được đền đáp. 20 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1954, một tiếng nổ lớn phát ra từ đường hầm. Đó cũng là tín hiệu để Trung đoàn 174 Đại đoàn 316 xung phong chiếm toàn bộ đối A1. 4 giờ sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, ta làm chủ hoàn toàn đồi A1. Khi kể về chuyện đường hầm lịch sử và khối bộc phá 960 kg, Ông Thoảng rất tự hào: “ Đó là tiếng nổ hạnh phúc nhất của đời lính công binh”. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ngày 7 tháng 5 năm 1956, Bộ Quốc phòng tổ chức lễ tuyên dương anh hùng quân đội lần thứ 3. Lưu Viết Thoảng là một trong 43 cán bộ, chiến sỹ xuất sắc nhất của Quân đội được Chính phủ tuyên dương Anh hùng quân đội, khi đó ông vừa tròn 33 tuổi và là Chính trị viên phó đại đội thuộc Trung đoàn 151 Đại đoàn 351. Nhớ lại ngày ấy, Anh hùng Lưu Viết Thoảng xúc động: Hội trường Bộ Quốc phòng hôm đó rực rỡ cờ và hoa. Trong bộ quân phục mới, trên ngực đeo huân chương, huy hiệu chiến sỹ Điện Biên Phủ và bông hoa đỏ, những người được tuyên dương anh hùng ai cũng phấn khởi, khuôn mặt rạng ngời. Đối với Lưu Viết Thoảng đó là niềm vinh dự lớn lao. Được tin Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến dự buổi lễ, tin vui đến làm náo nức cả hội trường. Mọi người hồi hộp chờ đợi. Rồi Bác Hồ đến. Bác mặc bộ đồ ka ki quen thuộc thật giản dị. Bác giơ tay chào, tất cả hội trường vỗ tay không dứt. Rồi Bác nói chuyện, cả hội trường im phăng phắc lắng nghe như nuốt từng lời của Người. Cho đến mãi sau này, Anh hùng Lưu Viết Thoảng vẫn nhớ như in lời Bác dạy ngày ấy: “Các anh hùng thì tuyệt đối chớ tự cao tự đại, chớ kiêu căng. Phải luôn luôn nhớ rằng, được trở thành anh hùng là nhờ công lao chung của tập thể và vinh dự càng lớn thì nhiệm vụ càng nặng nề. Các chú phải cố gắng về mọi mặt, phải làm gương mẫu tốt cho mọi người, giúp đỡ và lôi cuốn mọi người cùng tiến”. Cũng buổi hôm đó, các đồng chí được Nhà nước tuyên dương anh hùng, được Bác Hồ tặng huy hiệu của Người. Kể từ đó, trong suốt những năm phục vụ quân ngũ, đến năm 1990 được Nhà nước cho nghỉ hưu, Anh hùng Lưu Viết Thoảng luôn học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi trở về địa phương, Đại tá Anh hùng Lưu Viết Thoảng là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Trần Phú (thị xã Bắc Giang). Năm 2006, ông lao vào cuộc chiến xóa đói giảm nghèo, được bầu là đại biểu nông dân giỏi của huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Ở cương vị nào, ông cũng luôn cố gắng rèn luyện, phấn đấu phục vụ quân đội, phục vụ nhân dân, là tấm gương tốt cho mọi người noi theo.



