112 bản vẽ cho một Quốc huy Việt Nam
Từ 112 bản nghiên cứu bằng chì và màu, họa sĩ Bùi Trang Chước đã góp phần tạo nên Quốc huy Việt Nam – biểu tượng hiện diện trên những văn kiện trang trọng nhất của đất nước.
Quốc huy Việt Nam hiện diện tại những nơi trang trọng nhất: trên văn kiện của Nhà nước, trong hội trường, tại trường học và các cơ quan công quyền.
Hình tròn nền đỏ, ngôi sao vàng, những bông lúa cùng nửa bánh xe răng đã trở nên quen thuộc đến mức ít người tự hỏi: Ai là người đầu tiên đặt những hình ảnh ấy lên bàn vẽ? Và phải trải qua bao nhiêu lần sửa đổi mới hình thành một biểu tượng cô đọng cho cả quốc gia?
Đằng sau Quốc huy Việt Nam là 112 bản phác thảo của họa sĩ Bùi Trang Chước.
Ông tên thật là Nguyễn Văn Chước, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1915 tại thôn Phú Xá, xã Phú Thượng, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Từ năm 1936 đến năm 1941, ông theo học khóa 11 Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và tốt nghiệp xuất sắc.
Bùi Trang Chước có năng khiếu đặc biệt về nghệ thuật đồ họa. Ông là một trong những người Việt Nam đầu tiên thiết kế tem bưu chính ở Đông Dương. Sau Cách mạng Tháng Tám, tài năng ấy được ông dành cho việc xây dựng những biểu tượng của nước Việt Nam mới.
Năm 1951, ông được điều về Nhà in Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, nhận nhiệm vụ thiết kế tiền. Những tờ tiền khi ấy không chỉ được dùng trong đời sống hằng ngày mà còn khẳng định sự tồn tại và chủ quyền của một nhà nước độc lập giữa những năm tháng kháng chiến.
Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia. Quốc kỳ và Quốc ca đã có, nhưng đất nước vẫn cần một mẫu Quốc huy để sử dụng trên giấy tờ ngoại giao và những văn kiện quan trọng.
Ngày 28 tháng 1 năm 1951, Bộ Ngoại giao gửi công văn đề nghị sáng tác Quốc huy và Quốc ấn. Một cuộc thi được phát động, thu hút nhiều họa sĩ tham gia.
Năm 1953, Bùi Trang Chước được biệt phái thực hiện các mẫu bằng khen, huân chương và huy chương cho Chính phủ. Từ đây, ông bắt đầu dành nhiều tâm sức nghiên cứu mẫu Quốc huy.
Vẽ một bức tranh đã khó. Tạo ra biểu tượng cho cả đất nước còn khó hơn nhiều.
Hình vẽ phải đẹp nhưng không được rườm rà. Mỗi chi tiết phải mang ý nghĩa rõ ràng, có thể sử dụng trên nhiều chất liệu và giữ được sự trang nghiêm khi phóng lớn hoặc thu nhỏ. Quan trọng hơn, Quốc huy phải thể hiện được lịch sử cách mạng, nền độc lập và khát vọng xây dựng tương lai của dân tộc Việt Nam.
Bùi Trang Chước nghiên cứu Quốc huy của nhiều quốc gia nhưng không sao chép. Ông thử nghiệm các cách bố trí khác nhau giữa ngôi sao, bông lúa, dải lụa và những biểu tượng của lao động.
Từ năm 1953 đến năm 1955, ông thực hiện tổng cộng 112 bản nghiên cứu và phác thảo, gồm 57 bản vẽ chì và 55 bản màu.
Có những mẫu sử dụng hình ảnh mặt trời đang lên, gợi liên tưởng đến buổi bình minh của một quốc gia độc lập. Có mẫu đặt chiếc đe ở vị trí trung tâm để tượng trưng cho lao động thủ công. Những bông lúa được thử nghiệm với nhiều kiểu dáng, lúc vươn thẳng, khi uốn cong ôm lấy phần trung tâm của hình tròn.
Ông lựa chọn hai màu đỏ và vàng làm màu chủ đạo. Đây là màu của Quốc kỳ, đồng thời gần gũi với nghệ thuật sơn son thếp vàng truyền thống thường xuất hiện trên hoành phi, câu đối của người Việt.
Trong khoảng 300 bản dự thi của giới mỹ thuật cả nước, 15 bản phác thảo của Bùi Trang Chước được Ban Mỹ thuật lựa chọn, gửi Bộ Tuyên truyền để trình Thủ tướng Chính phủ vào tháng 10 năm 1954.
Các mẫu này sau đó được trình Chủ tịch Hồ Chí Minh xem xét.
Bác Hồ góp ý rằng chiếc đe chỉ tượng trưng cho thủ công nghiệp cá thể, chưa thể hiện được nền công nghiệp hiện đại mà đất nước hướng tới. Tiếp thu ý kiến ấy, Bùi Trang Chước thay hình chiếc đe bằng bánh xe răng.
Ở mẫu được chỉnh sửa, hai bông lúa vươn lên bao quanh ngôi sao vàng. Phần dưới là nửa bánh xe tượng trưng cho công nghiệp; dải lụa mang tên nước quấn quanh gốc lúa. Nông nghiệp và công nghiệp cùng nâng đỡ biểu tượng ngôi sao của cách mạng.
Khi quá trình hoàn thiện đang diễn ra, Bùi Trang Chước được giao một nhiệm vụ đặc biệt khác liên quan đến thiết kế tiền. Họa sĩ Trần Văn Cẩn tiếp tục chỉnh sửa mẫu theo ý kiến của lãnh đạo để trình Quốc hội.
Vì vậy, sự ra đời của Quốc huy là kết quả chung của nền mỹ thuật cách mạng, trong đó Bùi Trang Chước là người thực hiện những mẫu nghiên cứu làm cơ sở lựa chọn, còn Trần Văn Cẩn là người chỉnh sửa và hoàn thiện bản trình Quốc hội.
Tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa I, diễn ra từ ngày 15 đến ngày 20 tháng 9 năm 1955, Quốc hội quyết định chọn mẫu Quốc huy do Chính phủ đề nghị.
Ngày 14 tháng 1 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 254-SL ban bố mẫu Quốc huy của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau khi đất nước thống nhất, ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội khóa VI quyết định sửa dòng chữ trên dải lụa thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Những thành phần cơ bản của mẫu Quốc huy vẫn được giữ nguyên.
Không chỉ góp phần tạo nên Quốc huy, Bùi Trang Chước còn thiết kế nhiều mẫu tiền, tem, bằng khen và huân chương. Trong số đó có Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập và Huân chương Lao động.
Ông cũng thực hiện Huy hiệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được Anh hùng Phạm Tuân mang theo trong chuyến bay Việt Nam – Liên Xô vào vũ trụ năm 1980. Bố cục mặt tiền Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có đóng góp thiết kế của ông.
Do tính chất đặc biệt của công việc, nhiều sáng tác của Bùi Trang Chước từng được giữ bí mật, ngay cả với những người thân trong gia đình. Ông âm thầm làm việc bằng cây bút và bàn vẽ, nhưng các tác phẩm của ông lại hiện diện trong đời sống của hàng triệu người.
Họa sĩ Bùi Trang Chước qua đời năm 1992.
Ngày 25 tháng 12 năm 2021, bộ sưu tập 112 bản phác thảo mẫu Quốc huy Việt Nam của ông được công nhận là Bảo vật quốc gia. Năm 2022, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học, nghệ thuật.
Nhìn lại 112 bản vẽ, chúng ta có thể thấy một biểu tượng quốc gia không xuất hiện sau một khoảnh khắc ngẫu hứng. Nó được hình thành từ hàng trăm thử nghiệm, những lần sửa chữa kiên nhẫn và sự lao động nghiêm túc của nhiều con người.
Bùi Trang Chước đã sống một cuộc đời thầm lặng. Nhưng mỗi khi Quốc huy Việt Nam xuất hiện, những đường nét do ông kiên trì tìm kiếm vẫn thay ông kể lại câu chuyện về một dân tộc đã giành được độc lập và đang cùng nhau xây dựng tương lai.



