13.TIẾN VỀ SÀI GÒN
13.TIẾN VỀ SÀI GÒN
Ngày 26/3/1975, Quân Đoàn III được thành lập trên cơ sở đổi tên Binh đoàn Tây Nguyên. Sau khi được thành lập, cả Quân đoàn tăng, pháo rùng rùng hành quân giữa ban ngày dài hàng chục cây số mà không lo sợ máy bay địch bắn phá như những năm trước. Ngồi trên xe GMC lấy được của địch tại Ban Mê Thuột, tôi có cảm giác nâng nâng tự hào chiến thắng và thầm ước gía như có được chiếc máy ảnh hay máy quay phim để ghi lại những hình ảnh hoành tráng của quân ta lúc đó. Xe đưa chúng tôi qua Đức Lập, Gia Nghĩa, Bù Đốp, về Đồng Xoài và dừng chân ở khu vực rừng cao su Dầu Tiếng. Trên đường đi, chúng tôi được tin có một phi công ta, giả lính ngụy cướp máy bay địch, ném bom vào dinh Độc lập, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thoát chết nhưng tin đó làm nức lòng toàn quân.
Sau khi vượt sông Sài Gòn gần Bến Lức bằng phao bơi tự tạo, Trung đội trinh sát chúng tôi do Trung đội trưởng Lê Đình Điệt quê Thái Bình chỉ huy tìm đường tiến qua Hố Bò, vào gần Đồng Dù, Củ Chi. Để vào được khu vực vốn là vành đai trắng, “đất thép” này, chúng tôi phải nhờ du kích và giao liên địa phương dẫn đường. Cô du kích áo bà ba, quàng khăn rằn, nón tai bèo, vai đeo khẩu AR15 rất kiệm lời, thoăn thoát dẫn chúng tôi đi. Thỉnh thoảng cô mới quay đầu lại phía sau, nhắc chúng tôi phải đi đúng lối để tránh vướng mìn. Đường đi vòng vèo, lắt léo, vằn vện quanh những hố bom dày chi chít, cây cối lơ thơ, cỏ mỹ lút đầu, đồng hoang nắng gắt, khác hẳn với Tây Nguyên bao la ngút ngàn.
Tối hôm đó, chúng tôi được giao liên bố trí ngủ dưới địa đạo Củ Chi. Nửa đêm chúng tôi bò lên mặt đất trinh sát vùng xung quanh, chạm phải ruộng dưa hấu của dân, quả chỉ nhỏ bằng quả bưởi. Đang cơn khát, chúng tôi đành vặt vài quả ăn tạm, rồi chôn vỏ, xóa kỹ dấu vết. Bò tiếp một đoạn gặp miệng một hố bom to, dưới có tiếng bò thở phì phò, chúng tôi ném một hòn đất thử phản ứng, có tiếng người e hèm, không phải địch, chắc là dân vùng ráp gianh ra làm ăn, sau đó chúng tôi lặng lẽ lui quân.
Những ngày tiếp theo, chúng tôi vào sát căn cứ Đồng Dù hơn đề đo đạc các mục tiêu. Trước mắt chúng tôi là một căn cứ khổng lồ, giây kẽm gai dày đặc, nhà mái tôn trắng xóa, cột điện gỗ thông ngâm nhựa đường, dựng tua tủa và các tháp nước cao lênh khênh.Những khẩu pháo 175 ly với biệt danh “Vua chiến trường” ẩn náu dưới những ụ đất to đùng, thỉnh thoảng vươn cái nòng dài ngoẵng lên bắn ra vùng ráp gianh rồi di chuyển nhanh đi chỗ khác tránh pháo của ta.Xung quanh chúng tôi ngổn ngang xác xe tăng M48 đã vàng ố, hoen rỉ bị cỏ Mỹ phủ vùi, dấu tích của những trận chiến giữa du kích Củ Chi và sư đoàn 25 tia chớp nhiệt đới Mỹ trước đây để lại.
Ngày 29/4/1975 ta nổ súng đánh Đồng Dù, chúng tôi đang dựng đài quan sát trên mấy cây thấp cạnh bụi tầm vông thì máy bay địch bổ nhào xuống ném hai trái bom to đùng cách chúng tôi chừng vài chục mét. Thật hú vía vì có kịp đào hầm hố gì đâu. Thế là vội đào hầm nhưng đất khô và rắn quá, cuối cùng chỉ đào được hố nông hoen hoẻn, đủ dấu được cái đầu. Gần trưa ta chiếm được Đồng Dù. Khi băng qua rừng cao su để vào thị trấn Củ Chi thì thấy các chiến sĩ đặc công của ta hy sinh nằm rải rác do bị bọn địch phục kích bất ngờ trong rừng cao su. Thật tiếc cho các anh vì đã đến gần ngày chiến thắng. Trong khi đó, toàn đội hình xe pháo của Trung đoàn, do Trung đoàn phó Nguyễn Văn Kính dẫn đầu, ngang nhiên đi qua một bốt của địch ở khu vực Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng mà không hay biết. Khi tới gần, nhìn thấy cờ ba sọc mới tá hỏa quay đầu. Cũng may bọn địch lúc đó cũng biết thân biết phận nên không dám nổ súng .
Nói về thủ trưởng Kính, người sĩ quan pháo binh được đào tạo bài bản, có mái đầu hói và thường đi đôi giầy sĩ quan đen bóng mang từ Liên Xô về để vào trận. Ông có một cuộc đời khá thăng trầm, quê Nghi Lộc Nghệ An, vào Nam từ 1967, sau 1975 lại sang Căm Pu Chia đánh Pôn Pốt, năm 1979 lại ngược lên biên giới phía Bắc cùng Quân đoàn III. Năm 1980 ông về hưu tại Thái nguyên, rồi chuyển gia đình vào Nha Trang, sau đó lại lên Đà Lạt và sống tới nay. Năm 2001 ông in cuốn “Một đời người, một chùm thơ” tặng bạn bè. Đọc thơ ông, dưới dạng nhật ký bằng thơ, tôi hiểu thêm về một người lính già trọn đời quân ngũ, đa tài, đa cảm, đa tình và đa quê. Mới rồi mọi người đồn ông vừa qua đời, nhưng rồi lại bảo không, chắc ông ốm nặng. Đã gần 40 năm tôi chưa được gặp lại ông, cầu mong ông sống thêm cùng gia đình, bạn bè và rừng thông Đà Lạt, nơi chắc rất hợp với tâm hồn đa cảm của ông.
Khí thế tiến công của ta như vũ bão, xe pháo và bộ đội tràn ngập thị trấn Củ Chi, Tân Phú Trung, Hóc Môn, Ngã Tư Bảy Hiền. Với đội hình hành tiến, nhiều khẩu pháo của ta được triển khai ngay trên mặt đường nhựa khiến các pháo thủ loay hoay tìm cách chốt, chèn bánh và càng pháo sao cho khi bắn không bị giật nảy lên. Bọn địch vẫn ngoan cố bắn trả từ các ngôi nhà cao tầng, hẻm phố. Tôi có cậu bạn cùng lớp, cùng phố, chơi với nhau từ nhỏ, tên Khìn, dân tộc Hoa, là pháo thủ Tiểu đoàn 11 bị dính đạn tại trung tâm Hóc Môn – Bà Điểm, may chỉ bị thương. Năm 1979, gia đình Khìn không về bên kia biên giới, vẫn sống bình thường ở Cao bằng, còn Khìn thì lấy vợ tận miền tây Nghệ An và sống luôn ở đó. Đã 37 năm rồi chúng tôi chưa gặp được nhau.
Trưa hôm sau, đúng 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, chúng tôi được tin quân ta đã chiếm được dinh Độc Lập, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Tất cả sung sướng ôm nhau nghẹn ngào mừng vui khôn tả. Hàng loạt tiểu liên AK nổ giòn vang mừng chiến thắng. Ngay chiều hôm đó, tôi cùng một số anh em trong đơn vị đã có mặt trong sân bay Tân Sơn Nhất để chuẩn bị đài quan sát trên tháp chỉ huy bay, sẵn sàng gọi pháo bắn diệt các ổ đề kháng của địch khi cần. Cả khu vực cổng sân bay ngổn ngang như một bãi chiến trường với cơ man quần áo, dày dép, ba lô, xe cộ, hòm tủ do người di tản vứt bỏ lại. Trên đường băng, nhiều máy bay các loại còn nguyên vẹn. Trong khu nhà kho cũng rất nhiều máy bay, thấy một chiếc máy bay nhỏ kiểu thể thao rất đẹp, tôi tìm cách trèo vào khoang lái tò mò tìm dù dưới ghế ngồi của phi công nhưng không thấy, sau đó vào một khu kho lớn tìm thực phẩm. Các thứ khác chúng tôi không dám đụng vào, vì kỷ luật quân đội hồi đó rất nghiêm.



