14. LÊ HỒNG PHONG – NGƯỜI LÃNH ĐẠO TIỀN BỐI KIÊN TRUNG 1902–1942 · NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG NGHỆ AN
LÊ HỒNG PHONG – NGƯỜI LÃNH ĐẠO TIỀN BỐI KIÊN TRUNG
1902–1942 · NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA QUÊ HƯƠNG NGHỆ AN
Có những con người bước vào lịch sử không phải bằng một cuộc đời dài, mà bằng những năm tháng sống trọn vẹn cho lý tưởng và vận mệnh của dân tộc.
Lê Hồng Phong là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của cách mạng Việt Nam.
Ông sinh ngày 6 tháng 9 năm 1902, tại Nghệ An. Sinh ra trong những năm đất nước còn chìm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Lê Hồng Phong sớm chứng kiến cảnh nhân dân lao động nghèo khổ và đất nước mất độc lập.
Những trăn trở ấy đã đưa ông đến với con đường cách mạng.
Trong quá trình hoạt động, Lê Hồng Phong có cơ hội học tập, rèn luyện về chính trị và quân sự ở nước ngoài. Ông từng học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, đồng thời được đào tạo về không quân và quân sự. Những năm tháng ấy giúp ông từng bước trưởng thành thành một cán bộ cách mạng có bản lĩnh và năng lực tổ chức.
Sau những năm hoạt động ở nước ngoài, Lê Hồng Phong trở về tham gia khôi phục và xây dựng tổ chức cách mạng trong nước.
Đầu những năm 1930, phong trào cách mạng phải trải qua những cuộc đàn áp khốc liệt. Nhiều cán bộ bị bắt, nhiều cơ sở bị phá vỡ.
Trong hoàn cảnh ấy, việc khôi phục tổ chức và thống nhất lực lượng là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn.
Lê Hồng Phong cùng các đồng chí của mình kiên trì hoạt động, góp phần xây dựng lại hệ thống tổ chức của Đảng và kết nối phong trào cách mạng trong nước với hoạt động ở nước ngoài.
Tháng 3 năm 1935, Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương được tổ chức tại Ma Cao, Trung Quốc. Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Cũng trong năm đó, ông được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản.
Trên cương vị lãnh đạo, ông cùng Trung ương Đảng tập trung vào việc củng cố tổ chức, phát triển lực lượng và lãnh đạo phong trào đấu tranh trong một thời kỳ đầy biến động.
Nhưng con đường ấy không hề bằng phẳng.
Kẻ thù luôn tìm cách truy bắt những người lãnh đạo cách mạng.
Lê Hồng Phong nhiều lần bị theo dõi, bắt giữ và giam cầm. Trong nhà tù thực dân, ông phải chịu những hình thức tra tấn khắc nghiệt. Thế nhưng những đòn roi và sự hành hạ không làm ông từ bỏ niềm tin vào con đường mình đã lựa chọn.
Năm 1939, ông bị thực dân Pháp bắt.
Sau đó, ông bị đưa qua nhiều nhà tù và cuối cùng bị đày ra Côn Đảo.
Trong những năm tháng cuối đời, sức khỏe Lê Hồng Phong suy kiệt bởi điều kiện giam cầm khắc nghiệt. Ông qua đời tại Côn Đảo vào ngày 6 tháng 9 năm 1942, đúng ngày ông tròn 40 tuổi.
Bốn mươi năm cuộc đời.
Một cuộc đời không dài.
Nhưng trong bốn mươi năm ấy là những năm tháng của một người thanh niên từ quê hương Nghệ An đi vào con đường cách mạng, học tập, rèn luyện, tổ chức lực lượng và gánh vác trọng trách lãnh đạo trong những thời điểm vô cùng gian khó.
Lê Hồng Phong đã trở về với đất mẹ giữa biển khơi Côn Đảo.
Nhưng tên tuổi ông không nằm lại nơi nhà tù năm ấy.
Tên ông còn lại trong lịch sử cách mạng Việt Nam; trong ký ức của những người đi sau; trong những trang sách kể về một thế hệ đã lựa chọn dấn thân khi đất nước còn chưa có độc lập, tự do.
Nhìn lại cuộc đời Lê Hồng Phong, điều khiến người đời nhớ đến không chỉ là chức vụ Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, mà còn là hình ảnh một người chiến sĩ đã trải qua nhiều thử thách mà vẫn giữ vững niềm tin và khí tiết.
Ông thuộc về một thế hệ mà tuổi trẻ gắn với những năm tháng gian lao nhất của lịch sử.
Một thế hệ đã đi qua nhà tù, đòn roi và những mất mát để góp phần mở đường cho những đổi thay của đất nước.
Lê Hồng Phong – người lãnh đạo tiền bối, người con ưu tú của Nghệ An – đã sống 40 năm, nhưng những dấu ấn của ông đã vượt qua giới hạn của một đời người.
Côn Đảo hôm nay đã trở thành một địa danh thiêng liêng trong ký ức dân tộc.
Và giữa tiếng sóng biển, câu chuyện về những người đã nằm lại nơi này vẫn được kể cho các thế hệ mai sau.
Trong câu chuyện ấy có tên Lê Hồng Phong.
Một người đã dành tuổi xuân cho đất nước.
Một người đã đi đến tận cùng của con đường mình lựa chọn.
Và một con người mà lịch sử vẫn còn nhắc nhớ bằng sự trân trọng đối với một thế hệ lãnh đạo tiền bối đã hy sinh trong những năm tháng đấu tranh giành độc lập dân tộc.



