14. Viết về Nhà văn Nguyễn Công Hoan
Viết về Nhà văn Nguyễn Công Hoan
Tiểu sử và cuộc đời
Nhà văn Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903 tại tỉnh Hưng Yên và qua đời ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội. Quê gốc của ông ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (vùng đất này ngày nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).
Ông sinh ra và lớn lên trong một gia đình Nho học đã sa sút thế đạo. Ngay từ thuở thiếu thời, Nguyễn Công Hoan đã sớm được tiếp xúc với những vần thơ, câu văn thấm đẫm tính chất châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại cường hào chuyên ức hiếp dân nghèo. Nguồn mạch ấy đã định hình nên lối đi riêng của ông, để sau này khi dấn thân vào nghiệp văn chương, ông trở thành cây bút chuyên viết về đề tài trào phúng, châm biếm sâu cay. Về học vấn, vào năm 1926, Nguyễn Công Hoan tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm, mở ra một hành trình dài gắn bó với nghề dạy học song song với nghiệp cầm bút, từng bước khẳng định vị thế là một trong những đại biểu xuất sắc nhất của dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam hiện đại.
Sự nghiệp cách mạng và văn chương
Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm năm 1926, Nguyễn Công Hoan bắt đầu cuộc đời nhà giáo, từng đi giảng dạy ở nhiều địa phương như Hải Dương, Nam Định, Lào Cai cho đến trước khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 bùng nổ.
Khi chính quyền cách mạng được thành lập, ông được tin tưởng giao phó nhiều trọng trách như Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ và Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Tiếp đó, Nguyễn Công Hoan hăng hái gia nhập lực lượng Vệ quốc quân, đảm nhiệm vai trò biên tập viên báo Vệ quốc quân, Giám đốc Trường Văn hóa quân nhân, kiêm Chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo.
Từ năm 1948, ông chính thức đứng vào hàng ngũ của Đảng Lao động Việt Nam. Đến năm 1951, Nguyễn Công Hoan tham gia vào Trại tu thư của ngành giáo dục, trực tiếp biên soạn sách giáo khoa và bộ Sử Việt Nam hiện đại từ thời Pháp thuộc đến năm 1950 dành cho học sinh lớp 7 hệ chín năm.
Sau hiệp định Giơ-né-vơ năm 1954, ông tiếp tục có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn nghệ nước nhà khi giữ trọng trách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa đầu tiên (1957 – 1958). Trong các nhiệm kỳ tiếp theo, ông giữ vị trí Ủy viên Ban Thường vụ Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, đồng thời là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, cống hiến hết mình cho sự phát triển của nền văn nghệ cách mạng.
Phong cách sáng tác độc đáo
Trong dòng chảy của văn học hiện thực phê phán, nếu như Nam Cao nhìn cuộc đời bằng lăng kính đầy mòn mỏi, tha hóa của kiếp nhân sinh, Vũ Trọng Phụng cay đắng vạch trần sự bỉ ổi, vô nghĩa của xã hội, thì Nguyễn Công Hoan lại xem xã hội đương thời như một sân khấu hài kịch lớn. Giữa bối cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX với những giá trị đạo đức bị đảo lộn, lố lăng và kệch cỡm, ông đã khéo léo bóc trần những mưu đồ giả dối, lừa bịp bằng cách xây dựng nên những tình huống truyện cười ra nước mắt, vừa trào phúng vừa xót xa.
Trong cuốn hồi ký của mình, bà Lê Minh – con gái của cố nhà văn – từng bộc bạch: “Khi nhiều nhà văn đương thời vẫn đắm chìm trong chủ nghĩa lãng mạn, với những tác phẩm mang đậm chất huyền ảo như Hồn bướm mơ tiên, thì cha tôi đã kiên định chọn cho mình một con đường riêng biệt.” Con đường riêng ấy chính là nghệ thuật trào phúng, dùng tiếng cười làm vũ khí sắc bén để phanh phui những bất công xã hội, vạch trần bộ mặt tham lam của bọn quan lại cường hào, sự tàn bạo của địa chủ và bản chất vô lương tâm của giai cấp tư sản.
Sự độc đáo trong văn phong của Nguyễn Công Hoan không chỉ chinh phục độc giả trong nước mà còn nhận được sự đánh giá cao từ giới chuyên môn quốc tế. Giáo sư, Tiến sĩ văn học người Nga Nikulin đã tôn vinh ông là “bậc thầy của truyện ngắn châm biếm”. Với một gia tài gồm hàng trăm truyện ngắn trào lộng, ông đã dựng lên bức tranh chân thực, sinh động về những góc tối của đời sống xã hội thời bấy giờ.
Hệ thống nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn Công Hoan vô cùng đa dạng, phong phú. Từ những kiếp người nhỏ bé dưới đáy xã hội như phu phen, thợ thuyền, dân nghèo cho đến những kẻ ở tầng lớp trên như lý dịch, địa chủ, quan lại, dân biểu, nghị viện, tư sản và giáo chức; tất cả đều hiện lên với những cá tính góc cạnh, nổi bật trên cái nền xã hội mục nát. Lời nói và hành động của các nhân vật không chỉ mang lại tiếng cười sảng khoái, hóm hỉnh đơn thuần, mà ẩn sâu trong đó là nụ cười mỉa mai, châm biếm, thậm chí là tiếng cười cay đắng, phẫn nộ trước thời cuộc oai oăm. Vì lẽ đó, tiếng cười của Nguyễn Công Hoan không chỉ dừng lại ở mục đích mua vui giải trí, mà đã trở thành một thứ vũ khí nghệ thuật sắc bén, vừa có sức mạnh tố cáo mạnh mẽ, vừa lay động lương tri, biểu thị tấm lòng nhân đạo và niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn đối với những mảnh đời bất hạnh.
Tác phẩm tiêu biểu
Trong suốt cuộc đời cầm bút miệt mài, Nguyễn Công Hoan đã để lại cho hậu thế một khối lượng di sản văn học đồ sộ với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài cùng hàng loạt tiểu luận văn học giá trị.
Những tác phẩm làm nên tên tuổi của ông có thể kể đến như: Người ngựa, ngựa người, Kép Tư Bền, Thật là phúc, Hai thằng khốn nạn, Bước đường cùng, Tinh thần thể dục, Nông dân và địa chủ, Tranh tối tranh sáng, Thế là mợ nó đi tây, Xin chữ cụ nghè, Tắt lửa lòng, Đồng hào có ma, Hỗn canh hỗn cư, Đống rác cũ, Đời viết văn của tôi, Phành phạch, Cô làm công, Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn 1930, Tuyển tập Nguyễn Công Hoan, Cô giáo Minh…
Giải thưởng và vinh danh
Ghi nhận những cống hiến vĩ đại của ông cho nền văn học nước nhà, năm 1996, Nhà nước đã truy tặng Nguyễn Công Hoan Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật.
Từ thập niên 1960, Nguyễn Công Hoan đã vinh dự là một trong số ít những nhân vật Việt Nam xuất hiện trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô. Bên cạnh đó, vào năm 1936, cuốn truyện dài “Tắt lửa lòng” của ông đã được soạn giả tài danh Trần Hữu Trang chuyển thể thành vở cải lương kinh điển “Lan và Điệp”, sống mãi trong lòng nhiều thế hệ khán giả.
Để tri ân vị đại sư của làng văn học, tên của ông đã được trang trọng đặt cho nhiều tuyến đường và ngôi trường trên cả nước. Tại Hà Nội, con đường mang tên Nguyễn Công Hoan nằm ở vị trí kết nối giữa hai phố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh. Tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, tên ông được đặt cho một con đường tại phường Bắc Lý. Trên quê hương Hưng Yên, một ngôi trường phổ thông trung học lớn cũng tự hào mang tên Trường THPT Nguyễn Công Hoan.
Nhận định, đánh giá của giới chuyên môn
– Nhà nghiên cứu Lê Thị Đức Hạnh nhận xét: “Nguyễn Công Hoan cũng đã sống ở nông thôn trong nhiều năm, ông chịu khó quan sát nên có nhiều hiểu biết về nông thôn. Ông sáng tác nhiều truyện về đề tài này.”
– Giáo sư Trương Chính đưa ra góc nhìn tinh tế: “Nguyễn Công Hoan là một anh pha trò và một anh pha trò đậm. Anh pha trò ấy đã hiểu nghề, đã thành thạo lắm.”
– Hai nhà phê bình văn học hàng đầu Nguyễn Huệ Chi và Phong Lê đánh giá: “Cái cười của Nguyễn Công Hoan là một phương tiện đả kích… có sức công phá thật mạnh mẽ. Đôi lúc ta còn bất chợt thấy trong cái cười hài hước của ông một chút ngậm ngùi, một tình thương có thể nói là kín đáo.”
– Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoành Khung khẳng định vị thế độc tôn của ông: “Truyện ngắn trào phúng của Nguyễn Công Hoan là hiện tượng chưa có tới hai lần trong văn học Việt Nam”.
– Từ điển Bách khoa Việt Nam ghi nhận: “Có thể nói Nguyễn Công Hoan là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam… Nguyễn Công Hoan đến với chủ nghĩa hiện thực bằng văn học trào phúng. Từ những truyện đầu tiên, ông đã tìm đề tài trong những người nghèo khổ, cùng khốn của xã hội.”
– Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam đưa ra cái nhìn toàn diện: “Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyện ngắn trong văn học Việt Nam hiện đại. Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đa dạng, phong phú như một “bách khoa thư”, một “tấn trò đời” mà đặc trưng là xã hội phong kiến của thực dân ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ 20. Truyện ngắn Nguyễn Công Hoan có nhiều nét gần với truyện cười dân gian, tiếp thu được truyền thống lạc quan của nhân dân muốn dùng tiếng cười như một “vũ khí của người mạnh” để tống tiễn cái lạc hậu, cái xấu xa vào dĩ vãng…”.
– Đặc biệt, học giả Phạm Quỳnh thời bấy giờ cũng từng dành cho ông một lời khen ngắn gọn nhưng đầy trọng thị: “Truyện viết hay như Tây”.



