Mẹ Việt Nam Anh hùng

18. Viết về Liệt sĩ Bùi Thị He

Viết về Liệt sĩ Bùi Thị He

TP. Hồ Chí Minh21/05/2026Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Mẹ Bùi Thị He sinh năm 1921, nguyên quán tại ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Mẹ là một biểu tượng ngời sáng của vùng đất thép thành đồng, vừa là Liệt sĩ vừa là Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Trong dòng máu của mẹ là truyền thống kiên trung được lưu truyền qua các thế hệ, khi mẹ chính là người con gái của Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Bùi Thị Trèn (1890 – 1952). Trong cuộc đời mình, mẹ Bùi Thị He đã hiến dâng trọn vẹn tuổi xuân cùng xương máu của hai người anh trai, người chồng kết tóc và ba người con trai yêu dấu cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Tuổi trẻ kiên cường và gia đình giàu truyền thống

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình bần nông nghèo đông con có 6 anh chị em, cuộc đời mẹ sớm gắn liền với những tháng ngày lao động vất vả, làm thuê cạo mủ cao su tại đồn điền Đỗ Cao Lụa (nay thuộc Nông trường Phạm Văn Cội) để đỡ đần gia đình. Giữa cái nôi cách mạng xã Nhuận Đức, mẹ sớm bộc lộ tinh thần gan dạ khi dấn thân làm giao liên cho lực lượng dân quân ấp Xóm Bưng ngay từ năm 16 tuổi.

Năm 18 tuổi, mẹ lập gia đình cùng ông Đặng Văn Gạo – một người con của xã An Nhơn Tây, Củ Chi, vốn là chiến sĩ hoạt động cách mạng tích cực từ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trở thành hậu phương vững chắc, mẹ luôn động viên, giúp đỡ để chồng hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Năm 1940, khi vừa sinh người con trai đầu lòng, mẹ đã chính thức gia nhập vào hàng ngũ đội du kích xã Nhuận Đức. Trải qua những năm tháng thanh xuân, mẹ sinh được 7 người con (6 trai, 1 gái) gồm: Đặng Văn Thóc, Đặng Văn Khổng, Đặng Thìn, Đặng Văn Lình, Đặng Thị Nàng, Đặng Văn Xình và Đặng Văn Nga. Được tắm mát trong bầu không khí yêu nước của gia đình, các người con của mẹ khi lớn lên đều tiếp nối chí khí của cha mẹ, hăng hái lên đường tòng quân đánh giặc.

Người lĩnh xướng kiên trung tại trận địa chính trị

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, mẹ Bùi Thị He luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được tổ chức giao phó. Đến năm 1963, mẹ được tin tưởng giao trọng trách Trưởng ban Cán bộ Phụ nữ kiêm Trưởng ban Vận động biểu tình xã Nhuận Đức.

Sáng ngày 6 tháng 9 năm 1963, mẹ đã hiên ngang đi đầu, dẫn dắt đoàn biểu tình của quần chúng nhân dân tiến thẳng về phía chợ Phú Hòa Đông (Củ Chi) để tổ chức cuộc đấu tranh chính trị trực diện với quân thù. Trước làn sóng đấu tranh sục sôi của nhân dân, kẻ thù đã điên cuồng nổ súng đàn áp dã man. Mẹ Bùi Thị He bị trúng đạn bạo tàn và bị thương rất nặng. Trên đường đồng đội và nhân dân cáng về nhà, mẹ đã trút hơi thở cuối cùng, anh dũng hy sinh ở tuổi 42, để lại niềm tiếc thương và lòng căm thù giặc sâu sắc cho đồng bào đất thép.

Những trang sử vàng đẫm máu và nước mắt của gia đình

Nỗi đau mất mẹ chưa kịp nguôi ngoai, gia đình mẹ lại liên tiếp nhận những tin đường ra trận của chồng và các con – những người đã ngã xuống trong tư thế của người chiến sĩ anh hùng:

  • Chồng của mẹ – Liệt sĩ Đặng Văn Gạo: Nhập ngũ năm 1939 và được kết nạp vào Đảng năm 1945. Thời chống Pháp, ông giữ chức Trưởng ban Kinh tài Chi đội 6. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông giữ chức vụ Trưởng ban Quân nhu Quân khu 9. Ngày 20 tháng 3 năm 1970, trên đường đi công tác, ông rơi vào ổ phục kích của địch và anh dũng hy sinh.

  • Con trai lớn – Liệt sĩ Đặng Văn Thóc: Sinh năm 1940, nhập ngũ năm 1959. Anh giữ chức vụ Trưởng ban Bảo vệ thuộc Ban Tuyên huấn Khu Sài Gòn – Gia Định và đã ngã xuống trong một trận đánh xe tăng Mỹ oanh liệt vào ngày 5 tháng 9 năm 1967.

  • Con trai thứ ba – Liệt sĩ Đặng Văn Khổng: Sinh năm 1943, nhập ngũ năm 1962. Anh là Tiểu đội trưởng thuộc đơn vị Công trường 9, Quân đội Nhân dân Việt Nam và đã anh dũng hy sinh vào tháng 1 năm 1968 khi dũng cảm ôm trái nổ tấn công thẳng vào sân bay Biên Hòa.

  • Con trai thứ năm – Liệt sĩ Đặng Văn Lình: Nhập ngũ năm 1960. Anh là Tiểu đội trưởng thuộc Tiểu đoàn Vinh Quang Khu Sài Gòn – Gia Định (lực lượng Biệt động Thành) và đã hy sinh lẫm liệt vào năm 1967.

  • Bên cạnh người bạn đời và ba người con trai, khúc tráng ca của gia đình mẹ còn ghi dấu sự hy sinh của hai người anh trai ruột thịt:

    • Người anh cả – Liệt sĩ Bùi Văn Dốc: Sinh năm 1913, tham gia cách mạng từ năm 1945. Ông từng là cán bộ Ủy ban Kháng chiến xã Nhuận Đức, sau làm Trưởng ban Kinh tài xã. Ngày 27 tháng 8 năm 1969, ông đã hy sinh khi trận địa pháo của địch bắn trúng nơi ông cùng đồng đội đang họp bàn kế hoạch công tác.

  • Người anh thứ năm – Liệt sĩ Bùi Văn Cá: Sinh năm 1919, tham gia kháng chiến năm 1945 và từng giữ chức Xã đội trưởng xã Nhuận Đức trước khi chuyển sang công tác tại huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông anh dũng ngã xuống năm 1970 tại vùng Đồng Ớt, xã Lộc Thuận, huyện Trảng Bàng.

  • Tượng đài bất tử của đất thép thành đồng

    Để ghi nhận và tri ân sâu sắc những đóng góp vĩ đại cùng sự hy sinh cao cả của mẹ cho sự nghiệp độc lập dân tộc, Thủ tướng Chính phủ đã truy tặng mẹ Bằng Tổ quốc ghi công. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1995, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định truy tặng danh hiệu cao quý nhất: “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cho liệt sĩ Bùi Thị He.

    Chiến tranh đã khép lại, vùng đất Nhuận Đức năm xưa bị bom cày đạn xới nay đã hồi sinh xanh ngát, nhưng tấm gương kiên trung, bất khuất của mẹ cùng gia đình vẫn luôn là ngọn đuốc sáng soi đường cho các thế hệ trẻ mai sau. Hiện nay, việc thờ phụng, khói hương cho mẹ đang được người con trai là ông Đặng Văn Xình thành kính chu toàn tại ngôi nhà số 164, đường 538, ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn