196. KIM ĐỒNG
Hòa bình-hai tiếng thiêng liêng mà biết bao thế hệ đã phải đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả tính mạng để giành lấy. “Sau bao nhiêu năm mới có ngày hòa bình. Dù hòa bình ấy đã lấy đi bao máu xương dân mình…” trích trong ca khúc “Còn gì đẹp hơn” của Nguyễn Hùng, được sử dụng trong phim “Mưa đỏ”-như một lời nhắc nhở đầy day dứt về cái giá phải trả cho tự do, về những hy sinh thầm lặng phía sau ánh sáng của ngày toàn thắng. Khi ta ngoảnh đầu nhìn lại những năm tháng lịch sử ấy, bóng dáng của anh hùng liệt sĩ Kim Đồng-người Đội trưởng đầu tiên của Đội Nhi đồng cứu quốc. Kim Đồng chính là sự hiện thân của tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm, sự hy sinh quê mình vì cách mạng và lý tưởng độc lập dân tộc. Hình ảnh cậu bé Nùng nhanh trí, gan dạ, làm nhiệm vụ giao liên, bảo vệ các bộ đã thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với Đảng và Tổ quốc, làm bật lên biểu tượng anh hùng nhỏ tuổi.
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929 tại làng Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Từ tuổi thiếu niên, cậu đã sớm tiếp xúc với phong trào cách mạng ở căn cứ Việt Minh gần Pác Bó và nhanh chóng bộc lộ phẩm chất bản lĩnh, lanh lợi, ham học hỏi. Trong môi trường nhiều hiểm nguy, Kim Đồng nhận nhiệm vụ liên lạc, cảnh giới, dẫn đường cho cán bộ hoạt động bí mật, đồng thời là cầu nối giữa tổ chức với nhân dân bản địa.
Hình ảnh Kim Đồng anh hùng nhỏ tuổi gắn liền với chiếc tù và, cây gậy, chiếc gùi và con đường rừng quen thuộc. Những vật dụng tưởng bình thường ấy lại chính là “vũ khí” ngụy trang hoàn hảo để che mắt địch. Cậu thường giả làm một mục đồng, một đứa trẻ đi nương, đi rẫy, gùi củi… để qua mắt lính gác, rồi bí mật hoàn thành công việc chuyển thư, đưa tin.
Điều khiến Kim Đồng trở thành biểu tượng không chỉ nằm ở tuổi đời quá trẻ mà còn ở phẩm chất hiếm có: kỷ luật nghiêm, giữ bí mật tuyệt đối, xử lý tình huống linh hoạt. Khi gặp nguy cấp, cậu biết cách đánh lạc hướng kẻ địch bằng những dấu hiệu đã quy ước, bảo đảm an toàn cho đồng đội. Lòng dũng cảm ấy xuất phát từ niềm tin đơn sơ mà vững chắc: bảo vệ cách mạng chính là bảo vệ quê hương, bảo vệ cuộc sống bình yên của gia đình, bản làng.
Trong ký ức của đồng bào vùng Cao Bằng, Kim Đồng không chỉ là “người liên lạc giỏi nhất bản” mà còn là đứa trẻ hiếu thảo, sống chan hòa, sẵn sàng giúp đỡ người khác. Sự trưởng thành sớm của cậu đến từ khung cảnh thực tế khắc nghiệt thời thuộc địa, nơi mà mỗi ngày đều có thể là một trận “đấu trí” với quân lính. Chính trong bối cảnh ấy, tầm vóc của Kim Đồng anh hùng nhỏ tuổi càng hiện lên rõ nét: nhỏ bé về tuổi tác, lớn lao về chí khí.
Kim Đồng sinh ra trong một gia đình yêu nước, có anh trai, chị gái, anh rể đều tham gia hoạt động cách mạng. Cha anh bị bắt đi phu từ khi anh còn nhỏ và không rõ tung tích, anh trai là Nông Văn Dấu (bí danh Phục Quốc) là đội viên của Đội Giải phóng quân, chiến đấu và hy sinh tại chợ đồn Bắc Kạn.
Cao Bằng những năm ba bốn mươi của thế kỷ XX là nơi rừng núi điệp trùng, bản làng rải rác bên nương ngô, nương lúa. Đời sống người Nùng giản dị, bền bỉ, giàu nghĩa tình. Gia đình Kim Đồng không khá giả, nhưng nề nếp và thương nhau. Cha mẹ làm nương, quanh năm lam lũ; con cái từ sớm đã biết phụ giúp việc nhà, quen với đường rừng, suối đá, chòi canh. Chính lối sống gắn với thiên nhiên, với tập quán canh tác và giao thương bản địa giúp cậu thuộc lòng địa hình, lối mòn, khe suối – những “bản đồ sống” vô giá cho công việc liên lạc.
Trên vùng biên ải, tin tức qua lại giữa dân và cán bộ Việt Minh chủ yếu dựa vào mạng lưới niên thiếu, phụ nữ, già làng. Trẻ em ít bị nghi ngờ, nhưng không vì thế mà an toàn. Lính đồn tuần tra, mật thám phục kích, kiểm soát khắt khe các lối đi chiến lược. Trong hoàn cảnh ấy, sự cảnh giác, kín kẽ trở thành “kỹ năng sinh tồn”. Kim Đồng học rất nhanh những quy ước bí mật: dấu hiệu buộc sợi dây vào cành cây, viên đá đặt nghiêng trên bờ suối, tiếng tù và thổi ba hồi ngắn một hồi dài… Tất cả là “mật mã” được cả bản làng ngầm hiểu để kịp thời báo động, chuyển hướng, hoặc tạm dừng liên lạc.
Gia đình và cộng đồng cũng là “trường học đầu tiên” của Kim Đồng về đạo lý. Truyền thống yêu nước, tinh thần đùm bọc trước bạo lực thuộc địa, câu chuyện về những người đi hoạt động bí mật đã nuôi dưỡng trong cậu lòng nể phục. Cậu được các anh chị lớn dạy cách quan sát dấu vết trên đường rừng, phân biệt tiếng bước chân, tiếng chó sủa, ánh đèn lạ từ đồn lính – những chi tiết nhỏ nhưng quyết định sự an toàn của cả mạng lưới.
Sự gắn kết giữa gia đình, bản làng và tổ chức cách mạng tạo nên “lá chắn mềm” nhưng bền chắc. Ở đó, một thiếu niên như Kim Đồng vẫn có tuổi thơ chăn trâu, hái măng, bắt cá suối, song đồng thời mang trên vai trọng trách của người chiến sĩ nhỏ tuổi. Môi trường ấy tôi luyện cậu thành thiếu niên gan dạ, tinh tường, thấm nhuần kỷ luật và tinh thần “vì mọi người”, chuẩn bị cho những nhiệm vụ ngày càng khó và nguy hiểm hơn.
Từ những việc nhỏ như đưa thư, gùi tài liệu, canh gác đầu bản, Kim Đồng anh hùng nhỏ tuổi dần trở thành hạt nhân liên lạc đáng tin cậy. Khi phong trào phát triển, cậu gia nhập Đội Nhi đồng Cứu quốc ở Nà Mạ và được bầu làm đội trưởng, trực tiếp tổ chức, phân công nhiệm vụ cho các đội viên.
· Giai đoạn đầu tham gia (liên lạc, chuyển thư)
Ban đầu, nhiệm vụ của Kim Đồng là chuyển thư từ điểm hẹn ở rìa bản đến nơi trú ẩn của cán bộ. Cậu phải qua các trạm kiểm soát, nên thường ngụy trang bằng gùi củi, bó măng hoặc lẫn trong đàn trâu bò. Thư được giấu trong ống nứa, dưới đáy gùi hay trong nắm cơm mang theo. Thời điểm giao thư được chọn vào lúc chạng vạng hoặc rạng sáng để giảm khả năng bị phát hiện.
Kỷ luật căn bản là “không đọc thư, không hỏi chuyện, không rời thư khỏi người”. Nếu thấy dấu hiệu bất thường như dấu chân lạ, tiếng còi đồn vọng xa, Kim Đồng sẽ lập tức dùng ám hiệu báo hủy hẹn. Tinh thần bình tĩnh, tỉnh táo giúp cậu vượt qua nhiều cuộc lục soát bất ngờ. Nhờ liên lạc thông suốt, thông tin về bố trí lực lượng, nhu yếu phẩm, thuốc men, giấy in truyền đơn… đến đúng người, đúng lúc.
· Gia nhập Đội Nhi đồng Cứu quốc – được bầu làm đội trưởng
Năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái quốc trở về bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng lãnh đạo phong trào cách mạng. Tại đây, Người đã viết rất nhiều tác phẩm để tuyên truyền, giác ngộ cách mạng cho nhân dân như Phụ nữ cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Nông dân cứu quốc, đặc biệt là tác phẩm Nhi đồng cứu quốc nhằm tập hợp các em nhỏ sớm có lòng yêu nước tham gia hoạt động cách mạng. Người giao nhiệm vụ cho anh Đức Thanh (Tên thật là Đàm Minh Viễn, anh được Bác Hồ trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng thành cán bộ cách mạng) thành lập tổ chức Hội Nhi đồng cứu quốc. Anh đã trực tiếp soạn thảo Điều lệ Hội Nhi đồng cứu quốc trình Bác cho ý kiến, chỉnh sửa và in ngay trong hang Cốc Bó. Đồng thời anh đã tuyên truyền, giác ngộ được những thiếu niên tiêu biểu của làng Nà Mạ tham gia Đội. Ngày 15/5/1941, dưới sự chỉ đạo của anh Đức Thanh, Hội Nhi đồng cứu quốc được thành lập tại Pò Đoi, dưới chân núi Thong Mạ gồm có 5 đội viên: Nông Văn Dền – Bí danh Kim Đồng, Nông Văn Thàn – Bí danh Cao Sơn, Lí Thị Xậu – Bí danh Thanh Thủy, Lí Thị Nì – Bí danh Thủy Tiên, Lý Văn Tinh – Bí danh Thanh Minh. Kim Đồng được bầu làm Đội trưởng.
Với vai trò đội trưởng, cậu xây dựng kỷ luật đội, chia nhóm hoạt động theo tuyến, quy ước các tín hiệu chung, tổ chức tập dượt tình huống giả định như gặp địch truy đuổi hoặc cần tản nhanh khỏi điểm hẹn.
Cậu chú trọng “ba điều”: giữ bí mật, đúng giờ, an toàn cho dân. Mỗi nhiệm vụ đều có phương án dự phòng, lộ trình thay thế, điểm trú ẩn tạm. Nhờ vậy, dù địch nhiều lần càn quét, đường dây thiếu nhi vẫn hoạt động đều, không để “đứt mạch” liên lạc.
· Sự nghiệp cách mạng
Năm 1941, Bác Hồ về Pác Pó lãnh đạo phong trào cách mạng. Tháng 8/1942, Kim Đồng vinh dự được gặp Bác Hồ tại hang Nộc Én ở trên núi sau xóm Nà Mạ. Bác khen ngợi đội trưởng Kim Đồng mưu trí, nhanh nhẹn, dũng cảm. Bác khuyên Kim Đồng cùng đội viên hãy giúp đỡ, tích cực bảo vệ cách mạng, vừa hoạt động vừa học văn hoá, chính trị để sau này nước nhà giành được độc lập, góp phần xây dựng đất nước.
Bước sang năm 1943, bọn địch khủng bố, đánh phá dữ dội vùng Pác Pó. Trong một lần đi liên lạc về, phát hiện một toán địch phục kích, Kim Đồng cử Cao Sơn chạy về báo cho các đồng chí cán bộ, còn mình nhanh trí đánh lạc hướng địch. Trúng kế của Kim Đồng, địch nổ súng bắn theo. Nhờ tiếng súng báo động ấy, các đồng chí cán bộ ở gần đó tránh thoát lên núi phía sau nhà. Kim Đồng chạy qua suối, địch đuổi bắn, Kim Đồng bị trúng đạn và anh dũng hy sinh ngay bên bờ suối Lê-nin. Hôm ấy là ngày 15/2/1943, Kim Đồng vừa tròn 14 tuổi.
Năm 1997, Kim Đồng được chủ tịch nước Lê Đức Anh truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Sự hy sinh anh dũng của Kim Đồng đã góp phần tô thắm những trang sử vẻ vang của Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và lớp lớp thiếu nhi Việt Nam. Anh xứng đáng là người đội trưởng đầu tiên của Đội, là tấm gương sáng ngời để các thế hệ thiếu niên, nhi đồng cả nước học tập, noi theo.
Di sản của Kim Đồng là sự hy sinh anh dũng, lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm, mưu trí của người đội trưởng đầu tiên Đội Nhi đồng Cứu quốc, trở thành biểu tượng bất diệt, nguồn cảm hứng giáo dục truyền thống cho thiếu nhi Việt Nam, với di tích lịch sử tại quê hương Cao Bằng và phong trào "Uống nước nhớ nguồn". Tấm gương của anh là bài học sâu sắc về lòng yêu Tổ quốc, sự hy sinh vì độc lập dân tộc, thúc đẩy thế hệ trẻ rèn luyện đạo đức, chăm ngoan, học giỏi, noi gương anh bảo vệ Tổ quốc.
Di sản của Kim Đồng
Biểu tượng anh hùng: Tên tuổi và sự hy sinh của anh là biểu tượng bất tử cho lòng yêu nước, sự hy sinh quả cảm của tuổi trẻ Việt Nam.
Di tích lịch sử: Khu di tích Kim Đồng tại Nà Mạ, Cao Bằng là "địa chỉ đỏ", nơi giáo dục truyền thống, tổ chức kết nạp đội, sinh hoạt cho thiếu nhi cả nước.
Nguồn cảm hứng giáo dục: Câu chuyện Kim Đồng là chất liệu giáo dục quan trọng về kỷ luật, dũng cảm, mưu trí, được đưa vào chương trình học và hoạt động Đội.
Phong trào thi đua: Gắn liền với phong trào "Học tốt, rèn luyện tốt", "Uống nước nhớ nguồn", "Việc nhỏ nghĩa lớn", khơi dậy tinh thần cống hiến.
Tấm gương Kim Đồng
Lòng yêu nước sâu sắc: Từ nhỏ đã căm thù giặc, có tinh thần yêu nước, yêu đồng bào mãnh liệt.
Dũng cảm, mưu trí: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ liên lạc, canh gác; mưu trí lừa địch, hy sinh để bảo vệ cán bộ, tạo điều kiện cho cách mạng phát triển.
Gương mẫu: Là đội trưởng đầu tiên của Đội, luôn đi đầu, gương mẫu trong mọi nhiệm vụ, hoạt động cách mạng.
Trí thông minh, nhanh nhẹn: Luôn sáng suốt, bình tĩnh, thể hiện trí tuệ và bản lĩnh của người chiến sĩ cách mạng nhỏ tuổi.
Bài học cho thế hệ trẻ
Nâng cao tinh thần yêu nước: Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, tự hào về lịch sử dân tộc.
Rèn luyện đạo đức, học tập: Chăm ngoan, học giỏi, rèn luyện tác phong, đạo đức cách mạng.
Sẵn sàng cống hiến: Tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ Tổ quốc, làm những việc ý nghĩa, xứng đáng với sự hy sinh của thế hệ trước.
Bài hát “Kim Đồng” là một sáng tác nổi tiếng của nhạc sĩ Phong Nhã. Đây là một ca khúc quen thuộc trong phong trào Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, được nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam yêu thích. Bài hát ca ngợi sự hy sinh anh dũng của Kim Đồng, người đội trưởng đầu tiên của Đội Thiếu niên cứu quốc.
Anh Kim Đồng ơi! Anh Kim Đồng!
Người Đội trưởng đầu tiên rất trung kiên.
Đem tấm lòng son, giắt bao thư hồng,
Vượt đường xa, băng ngàn dốc núi cheo leo.
Tay nắm cờ đỏ sao vàng thắm tươi,
Anh dũng truyền tin đến khắp nơi.
Anh hy sinh khi còn đang tuổi thiếu niên,
Máu anh đã nhuộm lá cờ thêm tươi thắm.
Nêu gương sáng cho đàn em nhỏ noi theo,
Hồn anh sống mãi trong lòng miền quê.
Chúng em nguyện đoàn kết với nhau xây nước nhà
Xứng danh Đội viên chí khí anh Kim Đồng.



