248. Anh Hùng Tô Văn Đực
Vào xưởng chế tạo vũ khí
Anh hùng Tô Văn Đực sinh năm 1942 tại Ấp Xóm Bưng (xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh) trong gia đình có 10 người con. Vì là con út nên ông được bà con gọi bằng tên thân mật là Út Đực. Mới 3 tuổi, Út đã có phản xạ quen thuộc là mỗi lần có máy bay ném bom, dội pháo là cậu bé chui xuống gầm ván dưới nhà. Máy bay vừa quay đi, Út liền chạy ra, mặc cho người lớn can ngăn, để nhặt vỏ đạn đang bốc khói, nhiều khi khiến đôi tay bỏng rát. Út Đực từ đó bắt đầu biết đến chiến tranh là gì. Cảnh chạy Tây diễn ra trong một thời gian dài, nhà cửa ruộng vườn tan hoang, cây cối cháy sém, trồi gốc rễ nghênh ngang trên mặt đất.
Năm 1951, anh thứ 6 của Út Đực tên Tô Văn Tua trong một lần tham gia du kích xuyên rừng thì bất ngờ gặp phải ổ phục kích của giặc, anh Tua bị thương nặng rồi hy sinh. Cũng trong năm này, ba của Út do sợ phải đóng thuế thân cho người Pháp nên đã trốn biệt vào rừng, mắc bệnh rồi qua đời, để lại người vợ cùng đàn con nheo nhóc, đói rách sống giữa thời loạn.
Năm 1954, Hiệp định Geneve ký kết, đất nước có những ngày tháng ngắn ngủi bình yên. Mọi người từ ấp chiến lược trở về nhà, khôi phục lại ruộng vườn, nhà cửa, ổn định cuộc sống.
Nhưng, niềm vui ngắn chẳng tày gang, chẳng bao lâu sau, hòa bình đã bị súng đạn của Mỹ - ngụy xé nát. Tình hình chiến sự miền Nam ngày càng ác liệt. Quân Mỹ đổ vào đất Củ Chi càn quét, cây cối, nhà cửa trở thành đồng không nhà trống. Dân làng phải sơ tán ra khỏi vùng, chỉ còn một số thanh niên, trai tráng còn sức khỏe ở lại giữ nhà giữ đất và bám trụ địa bàn.
19 tuổi, Tô Văn Đực bắt đầu hiểu thế nào là cách mạng khi gặp được ông Tư Sưa, chủ xưởng chế tạo vũ khí của xã Nhuận Đức. Nghe ông Tư Sưa kể, làm cách mạng, được là bộ đội của Miền (Trung ương Cục miền Nam), được trực tiếp cầm súng chiến đấu bắn máy bay của giặc, chàng trai Út Đực đã hào hứng xin đi theo.
Lần đầu tiên, Tô Văn Đực được dạy làm quen với cách làm súng ngựa trời bồng. Đây là loại súng thường dùng của du kích địa phương, cứ 10 ngày làm xong một khẩu. Khẩu súng đầu tiên làm xong, Tô Văn Đực vui mừng khôn xiết, ông ngắm bắn thử thấy tiếng nổ lại càng phấn khởi hơn. Từ đó, đã quen tay, Út làm việc siêng năng, chăm chỉ với một tinh thần và quyết tâm cao.
Bây giờ thì Út hiểu được thế nào là bộ đội rồi. Lúc đầu Út hơi thất vọng khi ông Tư Sưa dẫn vào rừng, vì nó không như Út nghĩ, bộ đội là phải ở chiến khu, đi đánh giặc. Nhưng, bây giờ thì Út hiểu, bộ đội có ở khắp nơi và làm bất cứ việc gì giúp ích cho cách mạng.
Súng ngựa trời bồng có điểm hạn chế là không bắn được xa, chỉ dọa giặc là chính nên xưởng của ông Tư Sưa chuyển sang làm súng trường. Loại súng trường khó hơn, phức tạp hơn nhưng lại có khả năng bắn xa, tác dụng sát thương cao, được du kích ưa chuộng. Để làm ra được súng trường thì mỗi cây phải hết đúng một tháng. Ai làm nhanh thì cũng 25 ngày. Mỗi người chịu trách nhiệm toàn bộ một cây cho đến lúc bắn được chứ không làm theo công đoạn.
Xưởng chế tạo vũ khí trong rừng lúc nào cũng nóng tiếng đập đe, tiếng cưa sắt và mùi thuốc nổ khét lẹt. Những người nông dân áo vải của mảnh đất Củ Chi như ông Tư Sưa, ông Ba Ánh đã gác lại cuốc cày và mảnh ruộng quê hương để trở thành người chiến sĩ kiên trung, bước qua cuộc kháng chiến 9 năm trường kì chống Pháp nay lại sát cánh cùng lớp thanh niên như Tô Văn Đực tiếp tục chống Mỹ.
Ngay trong việc chế tạo vũ khí, chàng trai Tô Văn Đực đã thể hiện khả năng nhạy bén, khôn ngoan và rất sáng tạo. Có những chỗ, nhưng nơi, những thông số kỹ thuật, Út tự sáng chế ra, phát huy khả năng của súng hơn.
Một hôm, đang hí hoáy làm súng trường thì Út Đực nhìn thấy ông Tư Sưa có khẩu súng ngắn đeo bên hông. Vừa nhìn thấy là Út mê liền. Út nghĩ trong đầu, sao mình không làm súng ngắn nhỉ? Nó có gì khó không? Út lân la hỏi mượn thử cây súng ngắn của ông Tư Sưa, sau đó tranh thủ mang ra chỗ khuất tháo hết bên trong ra rồi cẩn thận lấy bút ghi chép những chi tiết kỹ thuật khó làm hoặc mới hơn so với súng trường.
“Vì phải đảm bảo cho công việc làm súng trường đúng thời gian và tiến độ nên tôi chỉ có thể thực hiện ý tưởng làm súng ngắn vào những giờ nghỉ. Buổi tối, tôi thức trắng đêm nghiên cứu về cách làm súng ngắn. Những ngày sau đó, một cây súng ngắn có cấu trúc gọn gàng được hoàn thành. Tôi hồi hộp xuống chiếc giếng bỏ hoang bắn thử. Một tiếng nổ, đùng... đạch... Tôi vui sướng reo lên một mình. Một niềm vui to lớn hơn ngay sau đó là sự kiện tôi được kết nạp vào Đảng năm 1963. Từ đó, tôi đã sống với lý tưởng cao quý của người cộng sản, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho ngày giải phóng quê hương”, Anh hùng Tô Văn Đực nhớ lại những ngày trong xưởng chế tạo vũ khí đánh giặc.



