Bài viết

25. Viết về Đào Duy Từ

Viết về Đào Duy Từ

TP. Hồ Chí Minh21/05/2026Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thân thế và tuổi trẻ gian truân

Đào Duy Từ (1572 – 1634), tự hiệu là Lộc Khê, nguyên quán tại xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, xứ Thanh Hoa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa), Đại Việt. Ông là một bậc thầy quân sư, một chính trị gia lỗi lạc, một nhà quân sự, nhà văn hóa và là một thi sĩ tài danh dưới thời Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Ông được tôn vinh là đệ nhất khai quốc công thần của các Chúa Nguyễn và triều đại nhà Nguyễn sau này.

Đào Duy Từ sinh trưởng trong một gia đình có cha là cụ Đào Tá Hán – một người làm nghề xướng hát chuyên nghiệp, và mẹ là người họ Nguyễn. Từ thuở nhỏ, ông đã sớm bộc lộ tư chất thông minh thiên bẩm, học rộng biết nhiều và giàu chí lớn. Mùa thu năm Nhâm Thìn (1592), Bình An Vương Trịnh Tùng hạ lệnh mở khoa thi tại kinh kỳ. Khi ấy, Đào Duy Từ vừa tròn 21 tuổi, tràn đầy nhiệt huyết tìm về kinh đô với mong muốn ứng thí để giật giải khoa bảng, đền nợ nước non. Thế nhưng, do xuất thân từ dòng dõi hát chèo – tầng lớp bị xã hội đương thời định kiến – luật pháp nhà Lê - Trịnh bấy giờ đã lạnh lùng tước bỏ quyền dự thi của ông.

Hành trình vào Nam và bước ngoặt cuộc đời

Nhận thấy chốn Bắc Hà không có đất cho mình tiến thủ, Đào Duy Từ quyết định gạt nước mắt, dấn thân vào phương Nam tìm minh chủ. Trên chuyến hành trình thiên lý, vì gia cảnh nghèo khó lại lạ người lạ cảnh, ông đã phải trải qua những ngày tháng nếm mật nằm gai, đi ăn xin từ làng này qua làng khác để độ nhật. Khi lần hồi đến tận vùng đất tỉnh Bình Định, ông mới quyết định dừng gót giang hồ.

Nghe danh ông Lê Phú ở làng Tài Lương là một bậc cự phú khét tiếng trong vùng đang cần tìm người chăn thả gia súc, Đào Duy Từ liền tìm đến xin làm việc. Từ đó, ngày ngày ông đuổi trâu ra đồng ăn cỏ, còn bản thân thì chọn những nơi cây cao bóng mát để nghiền ngẫm, nấu sử sôi kinh; đêm đến lại trở về rúc vào cót lúa trong nhà để ngủ. Qua những lần đàm đạo, Lê Phú nhận ra cốt cách phi phàm và sở học uyên bác của người chăn trâu, liền đổi xử với ông như bậc gia sư trong nhà. Ít lâu sau, Lê Phú trân trọng giới thiệu Đào Duy Từ với quan Khám lý Trần Đức Hòa ở huyện Bồng Sơn. Nhận thấy người thanh niên này có học vấn uyên thâm, kiến thức kinh bang tế thế trác tuyệt, quan Khám lý liền mời ông về nhà dạy học và tin tưởng gả con gái yêu cho ông.

Bậc đại thần khai quốc và di sản trường tồn

Năm 1627, qua sự tiến cử của Trần Đức Hòa, Đào Duy Từ chính thức ra giúp rập Chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Trong suốt 7 năm làm quan (1627 – 1634), bằng tài năng xuất chúng của mình, ông đã hiến kế và xây dựng cho chính quyền Đàng Trong một định chế chính trị vững mạnh, rất được lòng dân, thiết lập một cơ sở xã hội vững chắc cùng một lực lượng quân đội hùng mạnh. Nhờ nền móng kiên cố mà ông dày công đặt để, sau khi ông qua đời, cơ nghiệp của các Chúa Nguyễn vẫn tiếp tục truyền nối vững vàng qua 7 đời với 131 năm lịch sử.

Phải đến năm 1735, khi Vũ Vương mất, thế tử qua đời khiến quyền thần Trương Phúc Loan chuyên quyền lũng đoạn triều chính, lòng người ly tán, cơ nghiệp nhà Nguyễn mới bắt đầu suy vi trước làn sóng nổi dậy của nhà Tây Sơn ở Quy Nhơn và sự tấn công chiếm đất Phú Xuân của họ Trịnh.

Sau khi Nguyễn Phúc Ánh bình định thiên hạ, tiêu diệt nhà Tây Sơn và khai sinh ra triều đại nhà Nguyễn, vào năm Gia Long thứ 4 (1805), khi triều đình tiến hành xét duyệt công trạng của các bậc tiền nhân, Đào Duy Từ đã vinh dự được xếp ở vị trí hàng đầu trong danh sách Khai quốc công thần. Ông được triều đình đưa vào thờ tự tại nhà Thái miếu, được triều đình cấp 15 mẫu tự điền cùng 6 người hộ mộ để trông coi phần mộ phần. Đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), nhà vua lại sắc chỉ cho dân địa phương tu sửa lăng mộ của ông trang trọng. Đến năm 1932, vua Bảo Đại tiếp tục ra chiếu sắc phong Đào Duy Từ làm Thành hoàng làng Lạc Giao, vùng đất "Hoàng triều cương thổ" tại Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên.

Đào Duy Từ trút hơi thở cuối cùng vào ngày 17 tháng 10 năm 1634, hưởng thọ 63 tuổi. Để tưởng thưởng cho những công lao vĩ đại của vị quân sư lỗi lạc, Chúa Nguyễn đã truy phong cho ông danh hiệu: Tán-trị Dực Văn Kim Tử Đại-Phu. Cuộc đời chìm nổi từ một kẻ ăn xin, chăn trâu trở thành bậc vĩ nhân xoay chuyển vận nước của ông đã để lại niềm ngậm ngùi thương cảm sâu sắc trong lòng người đời sau, như một minh chứng cho sự xoay vần của lịch sử và khí tiết trường tồn của một bậc hiền tài.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn