Anh hùng Lực lượng vũ trang

3. Viết về Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn

Viết về Anh hùng liệt sĩ Bế Văn Đàn

TP. Hồ Chí Minh21/05/2026Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh (Đoàn Thanh niên Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương tại Thành phố Hồ Chí Minh)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Anh hùng Bế Văn Đàn sinh năm 1931, là người con của dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh (nay là xã Triệu Ẩu), huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Xuất thân từ một gia đình bần nông nghèo khó nhưng giàu truyền thống cách mạng, với cha làm thợ mỏ và mẹ mất sớm, anh đã sớm trưởng thành và tham gia hoạt động du kích tại địa phương. Tháng 1 năm 1948, anh tình nguyện xung phong nhập ngũ. Trong suốt quá trình tham gia nhiều chiến dịch lớn nhỏ, anh luôn nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy, tuyệt đối chấp hành nghiêm chỉnh, chính xác và kịp thời mọi mệnh lệnh của cấp trên, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao.

Vào thời điểm cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, Đảng ta quyết định mở Chiến dịch Đông Xuân 1953 – 1954. Khi đơn vị hành quân lên đường tham gia chiến dịch, đồng chí Bế Văn Đàn được phân công làm chiến sĩ liên lạc của tiểu đoàn. Lúc bấy giờ, một đại đội thuộc tiểu đoàn được giao nhiệm vụ bao vây và kìm chân quân Pháp tại Mường Pồn. Nhận thấy lực lượng của ta còn mỏng, quân Pháp đã tập trung hai đại đội, có sự yểm trợ đắc lực của máy bay và pháo binh, liên tiếp mở các đợt phản kích dữ dội. Tuy nhiên, cả hai lần tiến công của chúng đều bị quân ta đánh bại. Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng căng thẳng và ác liệt; quân Pháp liều chết xông lên, trong khi quân ta kiên quyết bám trụ, ngăn chặn chốt giữ vững vàng.

Trước tình thế đó, tiểu đoàn phát lệnh cho đại đội bằng bất cứ giá nào cũng phải giữ vững trận địa Mường Pồn nhằm kéo dài thời gian cho các đơn vị khác triển khai lực lượng, thực hiện ý đồ chiến lược của chiến dịch. Mặc dù vừa trải qua một chặng đường dài đi công tác trở về, nhưng ngay khi nghe thông báo từ ban chỉ huy, đồng chí Bế Văn Đàn đã không ngần ngại xung phong lên đường làm nhiệm vụ. Anh dũng cảm vượt qua làn bom đạn dày đặc của kẻ thù, kịp thời truyền đạt mệnh lệnh đến đại đội một cách chính xác và nhanh chóng.

Khi trận chiến ngày càng đi vào giai đoạn khốc liệt, đồng chí Bế Văn Đàn được lệnh ở lại sát cánh chiến đấu cùng đại đội. Trong đợt phản kích thứ ba, quân địch điên cuồng mở đường tiến công nhằm phá vỡ vòng vây. Đại đội chịu nhiều tổn thất, thương vong lớn khi chỉ còn lại 17 người; bản thân Bế Văn Đàn cũng đã bị thương, nhưng anh vẫn kiên cường bám trụ trận địa. Lúc này, một khẩu trung liên của đơn vị phải ngừng bắn vì xạ thủ đã hy sinh. Trong khi đó, khẩu trung liên của đồng chí Chu Văn Pù cũng chưa thể khai hỏa do địa hình hiểm trở, không có nơi đặt súng. Giữa thời khắc ngàn cân treo sợi tóc, không một chút do dự, Bế Văn Đàn lao đến cầm hai chân khẩu trung liên đặt thẳng lên vai mình và thúc giục đồng đội nổ súng. Thấy đồng chí Pù còn ngần ngại, Bế Văn Đàn đã kiên quyết thúc giục: “Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi!”. Nghe lời kêu gọi đanh thép, đồng chí Pù nghiến răng nổ súng thẳng vào đội hình quân địch, quật ngã hàng chục tên. Sự dũng mãnh của ta khiến quân Pháp hoảng loạn tháo chạy, bẻ gãy hoàn toàn đợt phản kích của chúng. Trong lúc lấy thân mình làm giá súng, đồng chí Bế Văn Đàn tiếp tục hứng chịu thêm hai vết thương nặng và đã anh dũng hy sinh vào chiều ngày 12 tháng 12 năm 1953, khi hai tay vẫn còn ghì chặt thân súng trên vai. Tấm gương hy sinh lẫm liệt của anh đã trở thành nguồn động lực tinh thần to lớn, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận hăng hái thi đua giết giặc lập công, góp phần làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu.

Khi ngã xuống, đồng chí Bế Văn Đàn đang giữ chức vụ tiểu đội phó và là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Với tinh thần nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tại Đại hội mừng công của đơn vị, anh đã được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được bình bầu là Chiến sĩ thi đua số một của tiểu đoàn. Ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc ấy, ngày 31 tháng 8 năm 1955, Quốc hội đã truy tặng đồng chí danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì.

Sự hy sinh cao cả của Anh hùng Liệt sĩ Bế Văn Đàn đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận đi vào văn học nước nhà:

“Bế Văn Đàn ơi, Mười năm qua anh vẫn còn, vẫn còn sống mãi, Đất nước quê anh lá thắm rừng xanh, Cam Mường Pồn quanh mồ anh sây đỏ, Lúa chín vàng trên địa cũ Mường Thanh, Đàn em thơ đang hát ca đời anh.”

Ngày nay, để tưởng nhớ và vinh danh người anh hùng Điện Biên năm xưa, nhiều tỉnh, thành phố lớn trên khắp cả nước như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Hới (Quảng Bình), Hạ Long (Quảng Ninh), Pleiku (Gia Lai), Bắc Ninh, Cần Thơ, Đà Nẵng, cùng quê hương Cao Bằng đã trân trọng đặt tên anh cho nhiều con đường và ngôi trường khang trang.

Hình tượng Anh hùng Bế Văn Đàn lấy thân mình làm giá súng mãi là niềm tự hào sâu sắc của mảnh đất cội nguồn cách mạng Cao Bằng. Kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (1954 - 2024), toàn dân tộc càng thêm khắc cốt ghi xương công ơn của những anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì sự sống của non sông, những người đã "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Thế hệ hôm nay nguyện sống xứng đáng với những hy sinh vô bờ bến ấy, quyết tâm phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển của đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn