30 năm phục vụ và xây dựng của ngành Quân y QĐND Việt Nam (1945-1975) (2)
Các bác sĩ, dược sĩ, y sĩ nhất là các anh em trẻ tuổi và các sinh viên y khoa, dược khoa phần lớn xuất thân từ thành phần trung gian hoặc thành phần lớp trên, nói chung có tinh thần yêu nước và đồng tình với cách mạng. Nhưng trong chế độ cũ, họ đã ít nhiều bị ảnh hưởng của tư tưởng và nếp sống của giai cấp tiểu tư sản và tư sản. Sau khi tốt nghiệp đại học, một số trở thành công chức, còn hầu hết đều đi vào đường “Làm tư”, họ tập trung ở một số thành phố lớn, thu hẹp vốn trí thức của mình trong v
Từ khi có giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng của mình lãnh đạo, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ cách mạng quyết liệt và liên tục giành thắng lợi.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận dụng tài tình và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-Nin về chiến tranh cách mạng và xây dựng lưc lượng vũ trang cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Ngay khi mới thành lập, Đảng ta đã đặt vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của công nông. Những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng đã xuất hiện, đó là những đội tự vệ đầu tiên, những đội tự vệ đỏ trong cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Khi Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng và chuyển hướng hình thức đấu tranh để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, các lực lượng tự vệ, tự vệ chiến đấu và du kích được xây dựng và phát triển, lúc đầu trong các vùng cơ sở cách mạng miền rừng núi Việt Bắc và đồng bằng Nam bộ, về sau ở nhiều địa phương rộng lớn khắp cả nước. Các lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của nhân dân ta lần lượt ra đời : Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Đội du kích Ba Tơ :
Các đội đầu tiên ấy có Đảng chỉ lối đưa đường lấy lòng dân làm căn cứ, lấy giác ngộ giai cấp, tinh thần yêu nước, lòng căm thù địch làm vũ khí tấn công, đã lớn lên trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng, đã phát triển nhanh chóng trong cao trào chống Nhật cứu nước và được thống nhất lại thành Việt Nam giải phóng quân, đã lớn mạnh trong những ngày đầu tổng khởi nghĩa oanh liệt và trở thành đội ngũ Vệ quốc đoàn đông đảo khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời.
Lịch sử thời kỳ hình thành các lưc lượng vũ trang cách mạng cho thấy : Quá trình hình thành ấy gắn liền với sự lãnh đạo cách mạng của Đảng, gắn liền với sự nổi dậy tự giải phóng của toàn dân. Ngay từ thời kỳ rất sớm, sự hình thành các lực lượng vũ trang cách mạng đã có những đặc điểm sau :
- Đảng là người trực tiếp sáng lập, lãnh đạo và giáo dục quân đội ta. Đảng đã xác định sự lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp của Đảng đối với các lực lượng vũ trang cách mạng ngay từ khi còn là các đội tự vệ. Sự lãnh đạo của Đảng đã quyết định bản chất giai cấp, bản chất cách mạng của quân đội. Đảng đã chỉ rõ quân đội ta phải là công cụ sắc bén của Đảng để tiến hành đấu tranh giai cấp bằng hình thức vũ trang. Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Đảng đã đem đường lối tổ chức của Đảng làm đường lối xây dựng quân đội. Đảng đã giáo dục cho quân đội lòng trung thành vô hạn đối với Tổ quốc, đã đem truyền thống đấu tranh bất khuất, của một dân tộc anh hùng, đem tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân mà rèn luyện chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho quân đội. Đảng đã đem truyền thống đoàn kết nhất trí của mình mà đoàn kết cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết quân đội và nhân dân.
Nguồn gốc sức mạnh của quân đội ta trước hết và chủ yếu là ở sự lãnh đạo của Đảng. Xác định và luôn luôn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đối với quân đội từ đầu đã là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc xây dựng quân đội ta.
- Từ nhân dân mà ra, từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng mà ra. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta đã phát triển lên đấu tranh vũ trang và từ đấu tranh chính trị của quần chúng, lực lượng vũ trang nhân dân với ba thứ quân ra đời. Ngay từ đầu, quân đội ta là quân đội công nông, là tổ chức vũ trang của khối liên minh công nông, của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai giai cấp công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Từ lúc ra đời, quân đội ta đã có tính chất là quân đội của dân tộc. Nó là quân đội giải phóng dân tộc. Từ nhân dân mà ra, quân đội ta phục vụ nhân dân không điều kiện. “Vì nhân dân quên mình” là tiêu chuẩn, là hòn đá thử vàng của quân đội cách mạng. Quân đội ta không những là đội quân chiến đấu mà còn đội quân công tác. Tách rời khỏi nhân dân, quân đội ta cũng ví như con thơ lìa mẹ, quan hệ nhân dân là quan hệ sinh tử của quân đội ta.
- Xây dựng chính trị, tư tưởng là vấn đề bản chất trong việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Công tác chính trị là công tác Đảng và công tác vận động quần chúng của Đảng trong các lực lượng vũ trang, nhờ đã xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản về tổ chức, xây dựng và lãnh đạo của Đảng nên đã có phương hướng đúng đắn ngay từ đầu. Nó đã giáo dục nâng cao không ngừng trình độ chính tri, tư tưởng cho cán bộ và chiến sĩ, đã lấy đường lối chủ trương của Đảng làm nội dung giáo dục, lấy công tác tư tưởng của Đảng làm cơ sở cho công tác tư tưởng trong lực lượng vũ trang. Nó đã giáo dục lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, lòng yêu nước, yêu nhân dân, nung nấu chí căm thù địch, đã rèn luyện tinh thần cách mạng, chí khí kiên cường bất khuất cho các lực lượng vũ trang. Nó đã có tác dụng quyết định đối với bản chất giai cấp và mục tiêu phấu đấu của các lưc lượng vũ trang ngay từ khi mới hình thành. Lấy xây dựng chính trị và tư tưởng làm cơ sở, các lực lượng vũ trang cách mạng ngay từ khi mới ra đời đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đã là một tập thể anh hùng.
Những đặc điểm trên đây là những đặc điểm cơ bản, nó quyết định bản chất của quân đội, đồng thời nó cũng có tác dụng quyết định đến quá trình phát sinh và phát triển của ngành quân y, có ảnh hưởng rất sâu sắc đến mọi bước trưởng thành của ngành quân y trong tất cả các thời kỳ lịch sử sau này.
Trên đây cũng là bối cảnh lịch sử trực tiếp quyết định điều kiện hình thành ngành quân y quân đội ta.
Trong thời kỳ hình thành, các lực lượng vũ trang cách mạng thường phải hoạt động trong các chiếu khu rừng núi. Đời sống chiến đấu gian khổ đã ảnh hưởng ngày càng nhiều đến sức khỏe các chiến sĩ.
Lúc này, quân y chưa thành một tổ chức, việc bảo vệ sức khỏe cũng như cứu chữa cho các chiến sĩ là do chính các chiến sĩ tự lo liệu bằng những phương tiện địa phương. So với ăn, mặc thì thuốc lại càng thiếu hơn. Do hoàn cảnh thực tế và do ý thức cách mạng, nên quân giải phóng đã coi cách giải quyết tốt nhất là giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa hơn chữa bệnh. Kỷ luật vệ sinh được đặt ra rất nghiêm ngặt : Cấm ăn quả xanh, cấm uống nuớc lã, mỗi khi hành quân mệt nhọc phải nghỉ ngơi rồi mới được tắm rửa, mỗi khi trú quân bắt buộc làm giường, làm lán, trừ trường hợp đặc biệt tuyệt đối không được gối đất nằm sương; mỗi khi có điều kiện là tổ chức tắm giặt, diệt chấy rận... Phương châm giữ vệ sinh, phòng bệnh tật đã có kết quả tốt trong điều kiện khó khăn gian khổ lúc đó, tỷ lệ người ốm không quá 7 % so với quân số.
Khi có người ốm, các đội vũ trang dựa vào kinh nghiệm của đồng bào địa phương tìm các lá, rễ cây làm thuốc để chữa. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã kể lại trong cuốn sách “Đội giải phóng quân”: “Mỗi tiễu đội chọn lấy một đồng chí thầy thuốc trong hàng ngũ của mình. Đồng chí ấy chuyên trách thu nhặt các thứ thuốc “Ngoại khoa”... nước mã liên an đã giúp cho nhiều anh em đỡ cơn sốt rừng, lá chiêu phi oóng, nụ áo, mần chông mu chữa sốt rét hoặc bị cảm ; có thứ lá đã giúp trị các vết thương nặng nhẹ, và hút đạn ra khỏi vết thương; cho đến bệnh lỵ, bệnh sâu quảng tất cả đều nhờ vào thuốc lá cây, rễ cây...” .
Một hộp đựng bơm tiêm với hai bơm tiêm (một bơm tiêm 5ml, một bơm tiêm 2ml) và 5 kim tiêm của Pháp sản xuất từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, là vốn liếng duy nhất của ngành quân y. Một trong những người thầy thuốc đầu tiên sử dụng những dụng cụ trên trong năm 1944-1945 để phục vụ người bệnh là đồng chí Nguyễn Thị Tuyết (tức Mai) chiến sĩ của đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân.
Ở Ba Tơ, đồng chí chính trị viên đội du kích chiến khu Núi Lớn kiêm luôn “Thầy thuốc” của đội (đồng chí này khi ở tù có làm nhiệm vụ săn sóc các đồng chí trong tù bị ốm nên có biết qua về thuốc). Thuốc của đồng chí “Thầy thuốc” này gồm mấy viên ký ninh, aspirin, ít bông băng, mấy ống quinin, dầu long não, một bơm tiêm...
Mãi tới ngày gần khởi nghĩa mới có một số y sĩ, dược sĩ, bác sĩ và sinh viên tham gia cách mạng 1 nhưng lúc đó vì phương tiện quá thiếu thốn, điều kiện hoạt động khó khăn, những người quân y đầu tiên này cũng chỉ cống hiến được nhiều tinh thần hy sinh, tận tụy hơn là cố gắng kỹ thuật.
Vì vậy, lịch sử ngành quân y Việt Nam chỉ thực sự bất đầu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công đã kết thúc hơn 80 năm thống trị của chủ nghĩa đế quốc và hàng ngàn năm áp bức của vua chúa phong kiến, đưa nhân dân Việt Nam từ nô lệ lên làm chủ nước nhà.
Tổng khởi nghĩa tháng Tám là một cuộc nổi dậy thắng lợi của nhân dân một nước thuộc địa và nửa phong kiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trải qua một quá trình đấu tranh chính trị lâu dài phát triển lên đấu tranh vũ trang, tiến hành đấu tranh du kích cục bộ khởi nghĩa từng phần ở rừng núi và nông thôn, cuối cùng nhân lúc quân thù khủng hoảng đến cực độ đã nhằm đúng thời cơ, dùng lực lượng của đội quân chính trị rộng lớn, kết hợp với lực lượng vũ trang cách mạng vùng dậy đập tan nền thống trị của đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền dân chủ nhân dân.
Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã khai sinh ra ngành quân y Quân đội nhân dân Việt Nam.


