Việt Nam là một nước có đồng bằng phì nhiêu, có nhiều đồi núi, có hình thể dài hơn rộng, được biển cả bao quanh, vừa nối liền với đại lục châu Á, vừa tiếp giáp với Thái bình dương, có vị trí địa lý quan trọng. So với các nước châu Á, Việt Nam là một nước đất không rộng lắm, người không đông lắm.
Khí hậu nước ta vừa mang tính chất nhiệt đới ẩm vừa mang tính chất á nhiệt đới, lượng nước ở nước ta có dư, lượng nhiệt lại đầy đủ, cân bằng bức xạ nhiệt quanh năm tạo nên một nhiệt độ cao, thuận lợi cho sinh giới phát triển : Động vật và thực vật ở Việt Nam rất phong phú, cây thuốc, con thuốc cũng rất nhiều. Nguồn nước dồi dào đã tạo ra một mạng lưới sông ngòi dầy đặc, dọc theo bờ biển khoảng 20km lại gặp một cửa sông.
Nước ta lại dài nên khí hậu giữa miền Nam và miền Bắc cũng khác nhau. Gió mùa đông bắc từ miền ôn đới tràn về đã mang theo cái rét lạnh đột ngột, với nhiệt độ tối thiểu dưới 10°C ở đồng bằng, ở vùng rừng núi xuất hiện sương muối, sương giá, đôi khi có cả tuyết rơi. Gió mùa đông nam từ Ấn độ dương và biển Đông lại đã đem đến một lượng ẩm cao khiến cho thiên nhiên nước ta có cả tính chất cận xích đạo. Gió mùa đã in dấu vết sâu sắc trên nhịp độ mùa. Ở nước ta mùa lạnh, mùa nóng, mùa khô, mùa mưa thể hiện rõ nét và ảnh hưởng lớn đến chế độ sông ngòi và chu kỳ sinh vật, tình hình bệnh phát theo mùa.
Trải qua hàng vạn năm, tổ tiên ta đã sớm được rèn luyện về tinh thần đoàn kết, cần cù nhẫn nại, sớm biểu lộ trí thông minh sáng tạo trong đấu tranh cải tạo thiên nhiên, từng bước phát triển sản xuất nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của mình. Từ vua Hùng dựng nước, ý thức “Là dân một nước là con một nhà” của nhân dân ta ngày càng củng cố, dân tộc ta đã xây dựng được một nước nhà thống nhất. Với bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, với hơn hai mươi cuộc chiến tranh lớn chống xâm lược, nhân dân ta đã hun đúc được một ý chí chiến đấu kiên cường, một tinh thần đoàn kết nhất trí, anh dũng hy sinh hết sức vẻ vang, có một di sản quân sự hết sức quý báu về tiến hành khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
Việt Nam được coi là một trong những cái nôi phát tích của loài người. Trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhân dân ta đã xây đắp nên một nền văn hóa lâu đời có trình độ khá cao, niềm tự hào của dân tộc ta và là một đóng góp vào nền văn minh cổ xưa của nhân loại.
Nền y học dân tộc cũng xuất hiện từ rất sớm, đã giúp cho con người Việt Nam chẳng những tồn tại mà còn phát triển trong những điều kiện khác nhau của cuộc đấu tranh cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội, trước những điều kiện bất lợi của thời tiết, trước những đe dọa của bệnh tật hiểm nghèo, nền y học dân tộc cổ truyền đã phát triển trên kinh nghiệm dân gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thầy thuốc lỗi lạc.
Ngay từ thế kỷ thứ II sau công nguyên, do điều kiện địa dư và quan hệ chính trị, nền y học dân tộc của ta đã có sự trao đổi với Trung Quốc. Qua các triều đại của các nhà nước phong kiến tự chủ Việt Nam, từ thế kỷ thứ X luôn luôn xuất hiện các thầy thuốc ưu tú. Về tổ chức y tế, đời nhà Lý triều đình đã đặt ra Ty thái y. Y học dân tộc thời này đã phát triển lên một bước, ngoài việc mở rộng nền y học dân tộc, còn đề xuất được những quy tắc về phép biện luận hạp lý trong chẩn bệnh và chữa bệnh, dùng châm cứu theo huyệt vị kinh lạc. Nhà Trần đã mở rộng Ty thái y thành Viện thái y. Do yêu cầu chống xâm lược phong kiến phương Bắc, đời Trần đã có kế hoạch chuẩn bị thuốc để phục vụ kháng chiến. Thái y viện đã tổ chức hái thuốc ở núi Yên Tử (Đông Triều), trồng thuốc ở Phả Lại và Dược Sơn (xã Hưng Dạo, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Hưng). Kế hoạch tự túc thuốc nam đã góp phần tích cực trong kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược (1288); năm 1362, vua Trần đã cho tổ chức việc trồng một số cây có giá trị chống bệnh thời khí (bệnh dịch) như hành, tỏi, tía tô, mùi, sả... ở một số địa phương bên sông Tô Lịch. Ý thức trồng thuốc bắt đầu từ đấy và đã trở thành truyền thống trồng cây thuốc trong nhiều địa phương.
Nguyễn Bá Tĩnh (thế kỷ thứ XIV) là một thầy thuốc có nhiều cống hiến tích cực cho nền y học dân tộc. Ông đã sử dụng một số chùa làm nơi chữa bệnh cho nhân dân. Qua những cơ sở chữa bệnh này, ông đã thu thập những kinh nghiệm quý trong dân gian, sưu tầm những bài thuốc hay, áp dụng, nghiên cứu và viết thành sách. Ông đã tổ chức trồng thuốc, kiếm thuốc, chế thuốc đề phát cho người bệnh, huấn luyện y hoc cho các tăng đồ, phổ biến phép phòng bệnh và chữa bệnh cho nhân dân. Ông đề ra phương châm tiến bộ “Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt”, nhằm sử dụng chữa bệnh cho đông đảo nhân dân, nêu cao tinh thần tự lực dân tộc.
Triều Lê (1428-1788) có nhiều chủ trương tiến bộ đối với việc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Luật Hồng Đức đặt ra quy chế nghề y, quy chế vệ sinh xã hội, quy chế pháp y, đồng thời ban hành luật cấm tảo hôn. Lê Huy Tông ra lệnh biên soạn và phát hành sách “Những điêu chủ yếu bảo vệ sức khỏe và kéo dài tuổi thọ” (Bảo sinh diên thọ toàn yếu) để truyền bá phương pháp vệ sinh, hô hấp vận động cho nhân dân.
Về tổ chức y tế, ở triều đình có Thái y viện, có Sở lương y trong các vệ quân chữa bệnh cho quân đội. Ở các tỉnh có Tế sinh đường chữa bệnh cho quan quân, trông nom việc cứu tế, y tế nhân dân, nhất là chống dịch ở các địa phương. Ở trung ương và các tỉnh đều có kho thuốc dự trữ và cấp phát, ở các huyện có các Y ty có trách nhiệm trông coi người tàn tật, già yếu.
Về phát triển dược liệu, thời kỳ này ta đã khai thác một số mỏ quặng để chế biến diêm tiêu, hồng đơn..., quản lý việc bóc quế để giữ giống và bảo đảm phẩm chất, thu thuế bằng hiện vật ở các nơi sản xuất thuốc (diêm tiêu, hồng đơn, tê giác, ngà voi, xạ hương, sâm, quế, trầm hương, kỳ nam, sáp ong...). Nghề trồng cây thuốc được tiếp tục khuyến khích và mở rộng trên nhiều địa phương.
Về phát triển y học ở Thái y viện có khoa huấn luyện y học (Y học huấn khoa) và đặt chức học lại ở các phủ huyện trông coi việc học thuốc ở các địa phương. Triều Lê Hiến Tông (thế kỷ thứ XVIII), Thái y viện lại có chủ trương đẩy mạnh việc trước tác sách y học và mở thêm trường dạy thuốc ở một số phủ, mở khoa thi Y khoa đồng tiến sỹ năm 1747 và xây dựng Y miếu Thăng Long 1774 nhằm khuyến khích và phát triển y học.
Lê Hữu Trác (1720-1791) là người thầy thuốc vĩ đại nhất đã có nhiều cống hiến xuất sắc phát triển nền y học nước nhà. Lê Hữu Trác không những là một nhà y học nổi tiếng mà còn là một nhà tư tưởng tiến bộ thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân đạo. Là nhà y học có học vấn sâu rộng, có tinh thần độc lập, sáng tạo trong nghiên cứu, ông đã vận dụng quan niệm về sự nhất trí giữa con người và môi trường, ông chủ trương phải nghiên cứu thời tiết khí hậu nước ta và đặc điểm của cơ thể để tìm ra những phương pháp phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán và điều trị thích hợp. Ông coi trọng kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân và ra sức tìm tòi các cây thuốc trong nước để chữa bệnh. Ông đã sưu tầm, phát hiện và bổ sung thêm công dụng của 305 vị thuốc nam, thu thập 2.854 phương thuốc của các bậc tiền bối và của nhân dân. Cuộc đời hoạt động khoa học của Lê Hữu Trác là tấm gương sáng về tinh thần trách nhiệm và sứ mệnh của người thầy thuốc.
“Đạo làm thuốc là nhân thuật có nhiệm vụ giữ gìn tính mệnh cho con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc giúp người làm phận sự của mình mà không cầu lợi, kể công”, đó là nội dung tư tưởng cơ bản đạo đức y học rất tiến bộ của Lê Hữu Trác. Ông đã để lại cho nền y học Việt Nam một di sản quý giá, đặc biệt là bộ Hải thượng lãn ông y tông tâm lĩnh (66 quyển). Trong tác phẩm này, ông đã phát huy những thành tựu của nền y học dân tộc cổ truyền kết hợp với việc vận dụng sáng tạo lý luận cơ bản của đông y và những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của bản thân, xây dựng thành hệ thống toàn bộ lý, pháp, phương, dược của nền y học Việt Nam. Lê Hữu Trác được coi là một trong những nhà bác học uyên thâm với những hiểu biết có tính chất bách khoa và những công trình nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực của nhân dân ta trong thế kỷ 18.
Trong triều đại Tây Sơn, do tình hình chiến tranh liên tiếp, đói kém và dịch tễ nhiều, nên Thái y viện đã tăng cường việc đi chống dịch cho nhân dân, đồng thời đã tổ chức ra Cục thuốc nam (Nam dược cục) nhằm nghiên cứu sử dụng thuốc nam.
Y học dân tộc dưới triều Nguyễn, thời kỳ tự chủ 1862-1883, cũng có những tổ chức y tế giống như triều Hậu Lê, Thái y viện có mở trường dạy thuốc ở Huế năm 1853.
Dưới các triều đại phong kiến, y học dân tộc đã có những thành tựu và phát triển nhất định, với những tác phẩm y học của Nguyễn Bá Tĩnh và Lê Hữu Trác, nền y học dân tộc đã có những thu hoạch quan trọng trên nhiều mặt cả về đạo đức y học và phép chữa bệnh, cả về kinh nghiệm và lý luận, cả về phòng bệnh và chữa bệnh. Đáng chú ý là các trước tác y học có một số không ít được viết bằng văn nôm dưới thể diễn ca nhằm phổ cập rộng rãi những kiến thức vệ sinh, y, dược trong quần chúng. Điều đó, một phần đã nói lên tính quần chúng và tính tự lập của nền y học dân tộc.
Song song với nền y học dân tộc của người Kinh, y học của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam cũng có những phát triển, đã truyền lại nhiều kinh nhiệm phòng bệnh, chữa bệnh tốt.
Nền y học dân tộc đã có tác dụng to lớn đối với sự nghiệp bảo vệ sức khỏe của đông đảo quần chúng nhân dân mặc dù khả năng hạn chế của y tế nhà nước phong kiến. | |
Logged
|
|
|
|
hoi_ls Thượng tá  Bài viết: 5149  | 
| Re: 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành Quân y QĐND Việt Nam (1945-1975)« Trả lời #2 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2020, 04:49:56 pm » | PHẦN MỘT Y HỌC YÀ Y TẾ VIỆT NAM THỜI THUỘC PHÁP. HÌNH THÀNH CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG (1939 - 1945)
1. Y HỌC VÀ Y TẾ VIỆT NAM THỜI THUỘC PHÁP
Cuối thế kỷ 19, đế quốc Pháp vũ trang xâm lược nước ta, bọn phong kiến nhà Nguyễn đầu hàng giặc, dân tộc Việt Nam mất nước, nhân dân ta trở thành nô lệ.
Nước ta trước đây vốn là một xứ nông nghiệp, dưới chế độ thống trị của đế quốc phong kiến, nhân dân ta không những bị áp bức về chính trị, bị bóc lột về kinh tế, mà về văn hóa, khoa học, kỹ thuật cũng đã bị chúng kìm hãm hết sức nặng nề, làm cho trình độ của ta về mặt này lạc hậu rất xa so với trình độ phát triển chung của thế giới. Cuộc cách mạng kỹ thuật (hay cuộc cách mạng công nghiệp) ở nhiều nước trên thế giới đã diễn ra từ thế kỷ 18, thế mà hàng trăm năm sau, đất nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu. Trong một thời gian dài cho đến trước Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta vẫn ở trong tình trạng một xứ nông nghiệp, là thuộc địa khai thác nguyên liệu và thị trường tiêu thụ của chủ nghĩa đế quốc, sản xuất nhỏ, phân tán và thủ công, văn hóa khoa học kỹ thuật lạc hậu và thấp kém.
Cán bộ khoa học kỹ thuật chỉ có rất ít, nói chung do đế quốc đào tạo ra nhằm sử dụng phục vụ cho bộ máy thống trị của chúng, chủ yếu có 3 ngành: luật, sư phạm và y. Về kỹ thuật thực hành cũng chỉ có một vài trường đào tạo, số lượng chừng vài trăm người ở trình độ trung cấp và sơ cấp, và cũng chỉ có một vài ngành đơn giản.
Nền y học dân tộc Việt Nam bị đè nén, xuyên lạc miệt thị và lợi dụng, có nguy cư bị mai một. Bọn gian thương chạy theo lợi nhuận, đầu cơ sức khỏe của nhân dân, lạm dụng những thành quả của nền y học dân tộc, biến thành mặt hàng buôn bán. Y tế dân tộc không thành một tổ chức, không có cơ sở chữa bệnh, không có trường đào tạo. Tại các địa phương đều có các ông lang, bà mế làm nghề tự do, truyền lại nghề làm thuốc trong phạm vi nhỏ hẹp. Tuy nhiên, trong điều kiện xã hội lúc đó vẫn có một số lương y chân chính, có mối liên hệ tốt với quần chúng nhân dân, có kinh nghiệm phòng và chữa một số bệnh, được tín nhiệm và có tiếng từng vùng. Trong dân gian rộng rãi vẫn lưu truyền những bài thuốc hay, các cách chữa bệnh đặc sắc; cây thuốc và con thuốc Việt Nam vẫn được nhiều người nuôi, trồng, kiếm hái và sử dụng. Nền y học hiện đại (còn được gọi là tây y), do đế quốc Pháp đưa vào trong quá trình khai thác thực dân được bọn thống trị đưa lên hàng chính thống.
Song song với chính sách chia để tri, bần cùng hóa và ngu dân, thực dân Pháp đã thực hiện một chính sách y tế phản động. Chi phí y tế chiếm khoảng 4% ngân sách Đông Dương lúc đó, trên 80% ngân sách là chi cho bộ máy thống trị và “Để trả nợ nước Pháp”. Mục đích chi phí ít ỏi này cũng chỉ nhằm bóc lột hơn nữa nhân công rẻ mạt của người bản xứ và để truyền bá ảnh hưởng của Pháp.
- Toàn quyền Đông Dương An-be Sa-rô vạch rõ: “Kinh nghiệm hôm qua chứng minh rằng: Sự tăng gia sản xuất thuộc địa... cũng là và nhất là một vấn đề nhân công, vấn đề bảo vệ dân chúng, bảo vệ sinh đẻ bằng công cuộc vệ sinh và cho thuốc... Tóm lại, cần phải giữ gìn và tăng gia vốn người để có thể làm cho vốn tiền hoạt động được và có lãi”.
- Toàn quyền Đông Dương Đu-me cũng nói: “Việc lập trường y sỹ có một ý nghĩa chính trị. Ông y sỹ do ta đào tạo ra, do ta trả lương sẽ là môt công cụ tích cực đề truyền bá ảnh hưởng Pháp, bởi vì ông y sỹ không thể không có ảnh hưởng trong dân” .
Tổ chức y tế thời thuộc Pháp rất nhỏ yếu, với đại đa số nhân dân có thể nói là không có tổ chức y tế bảo đảm. Chỉ tại một số thành phố lớn và tỉnh lỵ mới có một số cơ sở y tế và thực hành một số biện pháp vệ sinh nhằm phục vụ cho bọn cai trị người Pháp và số ít người giàu có. Đến trước Cách mạng tháng 8, cả nước chỉ có 147 bác sĩ y khoa được đào tạo từ các trường của Pháp và một số nhân viên y tế sơ cấp. Số nhân viên y tế do Pháp đào tạo chịu ảnh hưởng sâu sắc quan điểm y học tư sản, một số trở thành công chức phục vụ cho bọn thống trị, số còn lại kinh doanh làm giàu. Nghề chế thuốc và chữa bệnh lúc đó được coi là “Nghề tự do”, nghề của giới thượng lưu xã hội.
Sau 80 năm thống trị, thực dân Pháp đã làm nhà tù nhiều hơn bệnh viện, trên cả nước có 83 nhà tù và chỉ có 47 bệnh viện mà người dân lao động coi đây là nhà thương làm phúc “Là nơi chữa bệnh bố thí”.
Thời thuộc Pháp trung bình có một thầy thuốc cho 15 vạn dân, trong khi đó theo tỷ lệ trung bình trên quốc tế thường thấy là 1/1000, về giường bệnh có 0,1 giường bệnh cho 1000 dân, tỷ lệ đó ở các nước Âu Mỹ phát triển là 5/1000 đến 10/1000.
Trong nước không có công nghiệp chế thuốc, thuốc và dụng cụ y dược phải hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài, nguồn dược liệu dồi dào trong nước không được chú ý khai thác, sử dụng.
Đời sống và sức khỏe nhân dân ta bị uy hiếp rất nghiêm trọng: Hàng năm tỷ lệ trẻ mới đẻ bị chết từ 13% đến 20%, tỷ lệ trẻ em chết dưới một tuổi nhiều nơi rất khủng khiếp (50%). Trong những năm bình thường không có nạn đói hay dịch tả, tỷ lệ chết chung của người lớn lẫn trẻ lên tới 3 % do chính sách ngu dân của đế quốc và phong kiến nên trình độ hiều biết về văn hóa, về khoa học, về vệ sinh của nhân dân ta rất thấp kém.
Các bác sĩ, dược sĩ, y sĩ nhất là các anh em trẻ tuổi và các sinh viên y khoa, dược khoa phần lớn xuất thân từ thành phần trung gian hoặc thành phần lớp trên, nói chung có tinh thần yêu nước và đồng tình với cách mạng. Nhưng trong chế độ cũ, họ đã ít nhiều bị ảnh hưởng của tư tưởng và nếp sống của giai cấp tiểu tư sản và tư sản. Sau khi tốt nghiệp đại học, một số trở thành công chức, còn hầu hết đều đi vào đường “Làm tư”, họ tập trung ở một số thành phố lớn, thu hẹp vốn trí thức của mình trong việc kinh doanh. Các y sĩ, bác sĩ, thì mở phòng khám bệnh tư và chỉ mong “Khách hàng” cho đông để kiếm được nhiều tiền; họ không muốn và cũng không còn thì giờ đâu mà nghĩ đến việc ngăn ngừa bệnh tật cho nhân dân, các dược sĩ thì dựa vào nguyên liệu mua ở nước ngoài, pha chế thành các thành phẩm thông thường bán lấy lãi hoặc làm đại lý cho các hãng dược phẩm nước ngoài. Việc nghiên cứu khoa học, xây dựng một nền y học dân tộc nhằm ngăn ngừa bệnh tật, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân lao động, khai thác tài nguyên phong phú về dược thảo, dược liệu trong nước; kế thừa và phát huy vốn y học cổ truyền của dân tộc thì hầu như không ai chú ý đến.
Tình hình trên đây có ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng và phát triển ngành quân y sau này trong một thời kỳ lâu dài, đặc biệt là đã tác dụng đến việc xây dựng và phát triển ngành trong những năm chống Pháp xâm lược. | |
Logged
|
|
|
|
hoi_ls Thượng tá  Bài viết: 5149  | 
| Re: 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành Quân y QĐND Việt Nam (1945-1975)« Trả lời #3 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2020, 04:53:56 pm » | 2. HÌNH THÀNH CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CÁCH MẠNG
Từ khi có giai cấp công nhân Việt Nam thông qua Đảng của mình lãnh đạo, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ cách mạng quyết liệt và liên tục giành thắng lợi.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận dụng tài tình và sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê-Nin về chiến tranh cách mạng và xây dựng lưc lượng vũ trang cách mạng vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta.
Ngay khi mới thành lập, Đảng ta đã đặt vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của công nông. Những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng đã xuất hiện, đó là những đội tự vệ đầu tiên, những đội tự vệ đỏ trong cao trào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết - Nghệ Tĩnh. Khi Đảng chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng và chuyển hướng hình thức đấu tranh để chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, các lực lượng tự vệ, tự vệ chiến đấu và du kích được xây dựng và phát triển, lúc đầu trong các vùng cơ sở cách mạng miền rừng núi Việt Bắc và đồng bằng Nam bộ, về sau ở nhiều địa phương rộng lớn khắp cả nước. Các lực lượng vũ trang cách mạng đầu tiên của nhân dân ta lần lượt ra đời : Đội du kích Bắc Sơn, Quân du kích Nam Kỳ, Cứu quốc quân, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Đội du kích Ba Tơ :
Các đội đầu tiên ấy có Đảng chỉ lối đưa đường lấy lòng dân làm căn cứ, lấy giác ngộ giai cấp, tinh thần yêu nước, lòng căm thù địch làm vũ khí tấn công, đã lớn lên trong ngọn lửa đấu tranh cách mạng, đã phát triển nhanh chóng trong cao trào chống Nhật cứu nước và được thống nhất lại thành Việt Nam giải phóng quân, đã lớn mạnh trong những ngày đầu tổng khởi nghĩa oanh liệt và trở thành đội ngũ Vệ quốc đoàn đông đảo khi nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời.
Lịch sử thời kỳ hình thành các lưc lượng vũ trang cách mạng cho thấy : Quá trình hình thành ấy gắn liền với sự lãnh đạo cách mạng của Đảng, gắn liền với sự nổi dậy tự giải phóng của toàn dân. Ngay từ thời kỳ rất sớm, sự hình thành các lực lượng vũ trang cách mạng đã có những đặc điểm sau :
- Đảng là người trực tiếp sáng lập, lãnh đạo và giáo dục quân đội ta. Đảng đã xác định sự lãnh đạo tuyệt đối và trực tiếp của Đảng đối với các lực lượng vũ trang cách mạng ngay từ khi còn là các đội tự vệ. Sự lãnh đạo của Đảng đã quyết định bản chất giai cấp, bản chất cách mạng của quân đội. Đảng đã chỉ rõ quân đội ta phải là công cụ sắc bén của Đảng để tiến hành đấu tranh giai cấp bằng hình thức vũ trang. Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ chính trị của Đảng là lý tưởng, mục tiêu chiến đấu của quân đội. Đảng đã đem đường lối tổ chức của Đảng làm đường lối xây dựng quân đội. Đảng đã giáo dục cho quân đội lòng trung thành vô hạn đối với Tổ quốc, đã đem truyền thống đấu tranh bất khuất, của một dân tộc anh hùng, đem tinh thần triệt để cách mạng của giai cấp công nhân mà rèn luyện chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho quân đội. Đảng đã đem truyền thống đoàn kết nhất trí của mình mà đoàn kết cán bộ và chiến sĩ, đoàn kết quân đội và nhân dân.
Nguồn gốc sức mạnh của quân đội ta trước hết và chủ yếu là ở sự lãnh đạo của Đảng. Xác định và luôn luôn tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đối với quân đội từ đầu đã là nguyên tắc cơ bản nhất trong việc xây dựng quân đội ta.
- Từ nhân dân mà ra, từ phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng mà ra. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta đã phát triển lên đấu tranh vũ trang và từ đấu tranh chính trị của quần chúng, lực lượng vũ trang nhân dân với ba thứ quân ra đời. Ngay từ đầu, quân đội ta là quân đội công nông, là tổ chức vũ trang của khối liên minh công nông, của tình đoàn kết chiến đấu giữa hai giai cấp công nhân và nông dân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Từ lúc ra đời, quân đội ta đã có tính chất là quân đội của dân tộc. Nó là quân đội giải phóng dân tộc. Từ nhân dân mà ra, quân đội ta phục vụ nhân dân không điều kiện. “Vì nhân dân quên mình” là tiêu chuẩn, là hòn đá thử vàng của quân đội cách mạng. Quân đội ta không những là đội quân chiến đấu mà còn đội quân công tác. Tách rời khỏi nhân dân, quân đội ta cũng ví như con thơ lìa mẹ, quan hệ nhân dân là quan hệ sinh tử của quân đội ta.
- Xây dựng chính trị, tư tưởng là vấn đề bản chất trong việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Công tác chính trị là công tác Đảng và công tác vận động quần chúng của Đảng trong các lực lượng vũ trang, nhờ đã xuất phát từ những nguyên tắc cơ bản về tổ chức, xây dựng và lãnh đạo của Đảng nên đã có phương hướng đúng đắn ngay từ đầu. Nó đã giáo dục nâng cao không ngừng trình độ chính tri, tư tưởng cho cán bộ và chiến sĩ, đã lấy đường lối chủ trương của Đảng làm nội dung giáo dục, lấy công tác tư tưởng của Đảng làm cơ sở cho công tác tư tưởng trong lực lượng vũ trang. Nó đã giáo dục lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, lòng yêu nước, yêu nhân dân, nung nấu chí căm thù địch, đã rèn luyện tinh thần cách mạng, chí khí kiên cường bất khuất cho các lực lượng vũ trang. Nó đã có tác dụng quyết định đối với bản chất giai cấp và mục tiêu phấu đấu của các lưc lượng vũ trang ngay từ khi mới hình thành. Lấy xây dựng chính trị và tư tưởng làm cơ sở, các lực lượng vũ trang cách mạng ngay từ khi mới ra đời đã nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, đã là một tập thể anh hùng.
Những đặc điểm trên đây là những đặc điểm cơ bản, nó quyết định bản chất của quân đội, đồng thời nó cũng có tác dụng quyết định đến quá trình phát sinh và phát triển của ngành quân y, có ảnh hưởng rất sâu sắc đến mọi bước trưởng thành của ngành quân y trong tất cả các thời kỳ lịch sử sau này.
Trên đây cũng là bối cảnh lịch sử trực tiếp quyết định điều kiện hình thành ngành quân y quân đội ta.
Trong thời kỳ hình thành, các lực lượng vũ trang cách mạng thường phải hoạt động trong các chiếu khu rừng núi. Đời sống chiến đấu gian khổ đã ảnh hưởng ngày càng nhiều đến sức khỏe các chiến sĩ.
Lúc này, quân y chưa thành một tổ chức, việc bảo vệ sức khỏe cũng như cứu chữa cho các chiến sĩ là do chính các chiến sĩ tự lo liệu bằng những phương tiện địa phương. So với ăn, mặc thì thuốc lại càng thiếu hơn. Do hoàn cảnh thực tế và do ý thức cách mạng, nên quân giải phóng đã coi cách giải quyết tốt nhất là giữ gìn vệ sinh, phòng ngừa hơn chữa bệnh. Kỷ luật vệ sinh được đặt ra rất nghiêm ngặt : Cấm ăn quả xanh, cấm uống nuớc lã, mỗi khi hành quân mệt nhọc phải nghỉ ngơi rồi mới được tắm rửa, mỗi khi trú quân bắt buộc làm giường, làm lán, trừ trường hợp đặc biệt tuyệt đối không được gối đất nằm sương; mỗi khi có điều kiện là tổ chức tắm giặt, diệt chấy rận... Phương châm giữ vệ sinh, phòng bệnh tật đã có kết quả tốt trong điều kiện khó khăn gian khổ lúc đó, tỷ lệ người ốm không quá 7 % so với quân số.
Khi có người ốm, các đội vũ trang dựa vào kinh nghiệm của đồng bào địa phương tìm các lá, rễ cây làm thuốc để chữa. Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã kể lại trong cuốn sách “Đội giải phóng quân”: “Mỗi tiễu đội chọn lấy một đồng chí thầy thuốc trong hàng ngũ của mình. Đồng chí ấy chuyên trách thu nhặt các thứ thuốc “Ngoại khoa”... nước mã liên an đã giúp cho nhiều anh em đỡ cơn sốt rừng, lá chiêu phi oóng, nụ áo, mần chông mu chữa sốt rét hoặc bị cảm ; có thứ lá đã giúp trị các vết thương nặng nhẹ, và hút đạn ra khỏi vết thương; cho đến bệnh lỵ, bệnh sâu quảng tất cả đều nhờ vào thuốc lá cây, rễ cây...” .
Một hộp đựng bơm tiêm với hai bơm tiêm (một bơm tiêm 5ml, một bơm tiêm 2ml) và 5 kim tiêm của Pháp sản xuất từ sau đại chiến thế giới lần thứ nhất, là vốn liếng duy nhất của ngành quân y. Một trong những người thầy thuốc đầu tiên sử dụng những dụng cụ trên trong năm 1944-1945 để phục vụ người bệnh là đồng chí Nguyễn Thị Tuyết (tức Mai) chiến sĩ của đội Việt nam tuyên truyền giải phóng quân. Ở Ba Tơ, đồng chí chính trị viên đội du kích chiến khu Núi Lớn kiêm luôn “Thầy thuốc” của đội (đồng chí này khi ở tù có làm nhiệm vụ săn sóc các đồng chí trong tù bị ốm nên có biết qua về thuốc). Thuốc của đồng chí “Thầy thuốc” này gồm mấy viên ký ninh, aspirin, ít bông băng, mấy ống quinin, dầu long não, một bơm tiêm...
Mãi tới ngày gần khởi nghĩa mới có một số y sĩ, dược sĩ, bác sĩ và sinh viên tham gia cách mạng 1 nhưng lúc đó vì phương tiện quá thiếu thốn, điều kiện hoạt động khó khăn, những người quân y đầu tiên này cũng chỉ cống hiến được nhiều tinh thần hy sinh, tận tụy hơn là cố gắng kỹ thuật.
Vì vậy, lịch sử ngành quân y Việt Nam chỉ thực sự bất đầu từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Tổng khởi nghĩa tháng Tám thành công đã kết thúc hơn 80 năm thống trị của chủ nghĩa đế quốc và hàng ngàn năm áp bức của vua chúa phong kiến, đưa nhân dân Việt Nam từ nô lệ lên làm chủ nước nhà.
Tổng khởi nghĩa tháng Tám là một cuộc nổi dậy thắng lợi của nhân dân một nước thuộc địa và nửa phong kiến, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trải qua một quá trình đấu tranh chính trị lâu dài phát triển lên đấu tranh vũ trang, tiến hành đấu tranh du kích cục bộ khởi nghĩa từng phần ở rừng núi và nông thôn, cuối cùng nhân lúc quân thù khủng hoảng đến cực độ đã nhằm đúng thời cơ, dùng lực lượng của đội quân chính trị rộng lớn, kết hợp với lực lượng vũ trang cách mạng vùng dậy đập tan nền thống trị của đế quốc và phong kiến, lập nên chính quyền dân chủ nhân dân.
Tổng khởi nghĩa tháng Tám đã khai sinh ra ngành quân y Quân đội nhân dân Việt Nam.
---------------------------------------------------------------- 1. Dược sĩ Vũ Công Thuyết, nha sĩ Nguyễn Dương Hồng, sinh viên Nguyễn Xuân Bích. Dược sĩ Vũ Công Thuyết làm cứu thương cho đơn vị Quân giải phóng đánh chiếm Thái Nguyên. | |
Logged
|
|
|
|
hoi_ls Thượng tá  Bài viết: 5149  | 
| Re: 30 năm phục vụ và xây dựng của ngành Quân y QĐND Việt Nam (1945-1975)« Trả lời #4 vào lúc: 24 Tháng Bảy, 2020, 04:58:45 pm » | PHẦN HAI THỜI KỲ HÌNH THÀNH NGÀNH QUÂN Y QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM NGÀNH QUÂN Y PHỤC VỤ QUÂN ĐỘI TRONG NĂM ĐẦU CỦA CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN (8.1945 - 12.1946)
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi !
Ngày 2 tháng chín năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại vô cùng kính yêu của Đảng ta, của giai cấp công nhân và nhân dân ta. Thắng lợi đầu tiên có ý nghĩa lịch sử rất trọng đại này của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở nước ta, đã mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập tư do của Tổ quốc.
Trước thắng lợi rực rỡ của cách mạng Việt Nam, chủ nghĩa đế quốc thế giới mặc dù bị suy yếu sau chiến tranh vẫn ra sức tìm cách tiêu diệt chế độ dân chủ cộng hòa Việt Nam đang trứng nước.
Ở miền Bắc, cuối tháng tám năm 1945, gần 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch do đế quốc Mỹ dật dây, mượn cớ vào tước vũ khí quân đội Nhật, nhưng thực ra là âm mưu xâm lược miền Bắc nước ta. Ở miền Nam, đầu tháng chín năm 1945, quân đội đế quốc Anh kéo đến. Chúng cũng mượn tiếng tước vũ khí quân Nhật, nhưng kỳ thật đó là đội quân viễn chinh giúp thực dân Pháp mưu cướp lại nước ta. Trong khi đó, bè lũ phản cách mạng trong nước, bọn thân Mỹ, thân Tưởng, thân Pháp ra sức phá hoại cách mạng.
Ở các thành phố, đô thị quan trọng vẫn còn sáu vạn quân Nhật với nguyên vũ khí. Chúng tuy đã đầu hàng nhưng sẵn sàng theo lệnh quân đồng minh chống lại cách mạng nước ta.
Trước tình hình vô cùng khó khăn, phức tạp, với đường lối cách mạng tài tình sáng suốt, với phương pháp đấu tranh phong phú và linh hoạt, Đảng và Hồ Chủ tịch đã động viên đến mức cao nhất sức mạnh của toàn dân, nhanh chóng xây dựng và phát triển lực lượng cách mạng hùng hậu, triệt để khai thác những mâu thuẫn trong hàng ngũ quân thù, kiên quyết và khôn khéo đưa con thuyền cách mạng Việt Nam luồn các mỏm đá ghềnh lướt tới.
Miền Nam anh hùng đi đầu trong sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Với ý chí sắt đá vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc, với tinh thần cách mạng tiến công, nhân dân ta ở miền Nam đã đem sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân chống lại kẻ thù hung bạo. Cuộc chống Pháp anh dũng nổ ra ngày 23 tháng chín năm 1945 của Nam Bộ, lần lượt lan ra Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã ngăn chặn một bước sự xâm lược của thực dân Pháp, làm thất bại âm mưu của chúng hòng nhanh chóng đánh chiếm lại miền Nam nước ta, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh giữ vững chính quyền nhân dân, chủ quyền dân tộc. Đó là sự phát triển liên tục từ khởi nghĩa vũ trang thành chiến tranh cách mạng. Nó cống hiến những kinh nghiệm đầu tiên của kháng chiến toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, của giai cấp công nhân nước ta.
Nhân dân ta ở miền Bắc được cuộc kháng chiến oanh liệt của miền Nam cổ vũ, đã tiến hành một cuộc đấu tranh kiên quyết và đầy mưu trí trên các mặt trận : chính trị, quân sự và ngoại giao. Âm mưu lật đổ của Mỹ - Tưởng bị hoàn toàn đập tan. Hai mươi vạn quân Tưởng bị gạt ra khỏi bờ cõi. Bọn phản động tay sai bị diệt trừ. Khối đoàn kết toàn dân được tăng cường. Hậu phương được củng cố. Điều đó có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ vận mệnh của Tổ quốc, đến sự phát triển thắng lợi của cuộc kháng chiến cả nước.
Chỉ một thời gian ngắn sau Cách mạng tháng Tám, cả lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang đều phát triển nhẩy vọt, tạo nên sức mạnh to lớn để vượt qua muôn trùng khó khăn trước mắt, đồng thời chuẩn bị lưc lượng cho cuộc kháng chiến cả nước sau này. Đảng và Hồ Chủ tịch đã động viên toàn dân kháng chiến ở miền Nam và đấu tranh chính trị ở miền Bắc, xây dựng lực lượng chính trị rộng rãi của quần chúng, đồng thời xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, vừa vũ trang toàn dân vừa xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân đánh giặc.
Trong hoàn cảnh mới giành chính quyền, kinh tế lạc hậu và kiệt quệ, lại phải lập tức chiến đấu chống thù trong giặc ngoài, Đảng đã dựa vào khối đoàn kết toàn dân, phát huy sức mạnh của chế độ và chính quyền mới, huy động khả năng của toàn xã hội để xây dựng lực lượng vũ trang cả về chính trị, quân sự, và cơ sở vật chất kỹ thuật, lấy xây dựng về chính trị tư tưởng làm căn bản. Quân đội ta lúc này còn rất nghèo về trang bị, vũ khí, còn rất non nớt về trình độ chỉ huy và tác chiến, song nó vững vàng về chính trị, giầu lòng yêu nước, yêu dân, có khí thế cách mạng sục sôi của cả dân tộc vùng dậy.
Đó là đặc điểm tình hình chung của các lực lượng vũ trang cách mạng trong năm đầu của chính quyền nhân dân. |
|
|