Anh hùng Lực lượng vũ trang

302. AHLLVTNH TÔ VĂN ĐƯỢC

TP. Hồ Chí Minh23/12/2025Trần Mẫn Nhi (ĐOÀN XẪ TÂN AN HỘI)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

"Chín mươi triêu người lấy thân mình chở che Tổ quốc linh thiêng

Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố

Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa

Tôi lắng nghe

Tổ quốc

Gọi tên mình..."

(Tổ quốc gọi tên-Nguyễn Phan Quế Mai)

Tất đất-tất vàng, còn Tổ quốc là còn tất cả. Nhưng có lẽ, "tất vàng" ấy chẳng phải được đong đếm bằng từng cắt, từng đồng. "Tất vàng" đó là dải đất hình chữ S được nhuỗm đỏ màu máu của cha ông, nước mắt của đồng bào về một bầu trời quang đãng, nơi mà lá cờ đỏ sao vàng được tung bay. Đó là hòa bình, là một quãng trời lịch sử đã qua nhưng nỗi đau vẫn còn đó, vẫn nằm sâu trong trái tim của con người Việt Nam. Nghĩ lại mới thấy- bom đạn, chiến tranh dẫu có ác liệt như thế nào, họ vẫn cầm súng, vẫn dám hy vọng về một tương lai nơi mà có tiếng cười của trẻ con, có tiếng máy bay lượn quanh trời xanh nhưng chẳng có ai phải trốn, phải chạy. Chúng ta đứng dưới bầu trời hòa bình hôm nay, nhớ về những người đã ngã xuống vì màu cờ đỏ sao vàng. Ở tại mảnh đất Củ Chi- Đất thép thành đồng, "cỗ máy phá tăng" Tô Văn Đực đã chiến đấu vì lý tưởng cao đẹp, cống hiến thanh xuân cho Tổ Quốc, cho hai chữ 'hòa bình'.

Tô Văn Đực sinh năm 1942 tại ấp Xóm Bưng, xã Nhuận Đức, quận Củ Chi, tỉnh Gia Định (Nam Kỳ thuộc Pháp); là con út (thứ 9) trong một gia đình tá điền. Vì hoàn cảnh nghèo khó, mồ côi mẹ, ông không thể học lên cấp 3 và phải bỏ học lang bạt từ quê nhà sang các tỉnh Sông Bé, Đồng Nai làm thuê, thường hành nghề hàn tôn và sửa chữa xe đạp. Đến năm 1962, phong trào Đồng Khởi của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã lan rộng khắp vùng Củ Chi, ông quay về quê nhà xin gia nhập đội du kích xã Nhuận Đức. Ban đầu ông không trực tiếp chiến đấu mà được phân công chế tạo, sửa chữa khí tài chiến tranh ở xưởng công binh của xã đội Nhuận Đức - Quân Giải phóng, lúc đó chỉ là một nhà xưởng thô sơ. Tháng 2 năm 1962, Tô Văn Đực - Mười Đức tham gia dân quân xã đội Nhuận Đức, tổ công binh của ông có vai trò sửa chữa súng các loại để cung cấp cho lực lượng du kích xã chống lại các trận càn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Các loại súng chủ yếu gồm carbin, K54, colt 12 li. Đến đầu năm 1965 xe bọc thép xuất hiện nhiều trong các trận càn, ông nghiên cứu và tái sáng chế các loại mìn, bẫy bằng thuốc nổ TNT chống lại xe cơ giới, xe tăng. Khi có vũ khí hạng nặng trong tay, đơn vị của Tô Văn Đực tham gia chiến đấu, phá hỏng 13 xe M.113, bắn hạ được 32 binh sĩ đối phương. Ông được gia nhập lực lượng công binh của tỉnh đội Gia Định.Đầu năm 1966, sự tham chiến của quân đội Hoa Kỳ gây khó khăn lớn cho Quân Giải phóng, đặc biệt trong trận càn Crimpt (1966) làm sập cục bộ một số chiến hào, địa đạo ở Củ Chi và khiến đội du kích tê liệt. Mười Đức chọn phương án giữ gìn số khí tài ít ỏi của đơn vị, hạn chế đối đầu với cơ giới, và tập trung nghiên cứu, chế ra các loại mìn chống tăng bằng thuốc nổ dựa trên hiểu biết sẵn của mình. Nhưng vì cần sản xuất nhiều, công xưởng của Mười Đức thiếu thuốc nổ trầm trọng. Số chất nổ cạy được trong các loại bom bi lép hoặc đạn lép thậm chí không đủ cung ứng cho việc thử nghiệm, vì vậy hoạt động chiến đấu của lực lượng Quân Giải phóng ở đây tạm ngừng.

Thời chiến tranh khắc khổ, đồ ăn còn không đủ nói chi đến vũ khí. Nhưng ông vẫn làm được, tận dụng sắt vụn như mảnh bom, đường ray, ống thép… để chế tạo nòng súng, thân súng, cải tiến súng thu từ địch. Vũ khi tuy thô sơ, những chính ý chí kiên cường của ông nói riêng và ông cha ta khi xưa nói chung đã "rèn dũa" những mảnh kim loại sắt vụn ấy. Từ thực tế chiến đấu, ông sáng chế ra mìn gạt - thứ vũ khí đã giúp dân ta hạ khoảng 5.000 xe tăng Mỹ. Có lần xe tăng trúng mìn, trực thăng bay xuống cứu, cánh quạt lại kích nổ mìn gài trên cây, khiến trực thăng cũng tan xác. Bom đạn đầy rẫy, nhưng có lẽ số phận cho ông sống sót để kể lại những ngày ấy. Có những hành trình không chỉ để đi mà còn để lắng giữa- giữa lòng địa đạo mưa bom bão đạn ấy, có một cậu thanh niên trẻ ngày ngày miệt mài với những quả bom, khẩu súng tự chế và một niềm tin vào ngày hòa bình của dân tộc. Ông từng bộc bạch rằng: "Lứa tuổi của tôi sinh năm 1942, hoặc 43-44... coi như vùng này chết hết rồi không còn ai. Nói chung mình sống sót như vậy là mừng lắm rồi, thì sự cô đơn mình cũng có nghĩ đến rồi, nhưng vẫn tự an ủi và tiếp tục sống mà thôi. Bạn bè mình chết hết rồi, người chết đâu đòi hỏi được gì đâu, mình được hưởng công lao của họ, mình phải đóng góp cho ngày hôm nay, mình thấy rất hạnh phúc". Chúng ta tự hỏi rằng đồng bào ta đã phải sợ hãi bao nhiêu trước những cơn mưa bom, bão đạn. Bao nhiêu máu xương đã đổ xuống mảnh đất này để nuôi dưỡng đất nước Việt Nam hòa bình ngày hôm nay. Nghe ông kể mà cứ cảm thấy cay cay sống mũi, cậu thiếu niên năm ấy đã từng kiên cường biết bao nhiêu nhưng cũng thương thay những người con đã ngã xuống hòa mình vào mảnh đất quê hương để rồi đến tận bây giờ vẫn chưa được về với gia đình.

Sáng ngày 30/4/2025, tôi được mẹ cho tham dự lễ diễu binh 30/4 để kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hôm ấy trời đẹp lắm, sắc đỏ nhuộm cả con phố. Mọi người đến xếp hàng rất ngay ngắn, thậm chí có người còn chờ từ đêm hôm 19, có lẽ họ cũng giống như tôi. Biết rằng nếu bỏ lỡ cơ hội này thì sẽ hối hận biết bao. Giữa dòng người đông đúc ấy, tôi vẫn thấy các cụ- những người đã giải mã hòa bình, họ đứng đó dù nhỏ bé nhưng vẫn nổi bật. Tôi biết rằng họ đang nghĩ về thời chiến tranh đã qua, về những người đồng đội đã từng sát cánh chiến đấu ngày đêm. Hòa bình đẹp biết bao, nếu như 'đầy đủ' thì còn đẹp hơn. Tuy chúng ta không thể viết lại lịch sử, nhưng chúng ta có thể cùng nhau tô vẽ nên tương lai, sống với niềm tin và khao khát hy vọng, với lòng khắc ghi những công ơn của thế hệ đi trước đã ngã xuống.Trong kỷ nguyên mà dân tộc đang vươn mình ra biển lớn, trách nhiệm của thế hệ trrẻ không còn là sự lựa chọn, mà đó là lời hứa với non sông. Đó là trách nhiệm phải sống có lý tưởng, không ngừng vươn lên, dám mở lối, dám dẫn đầu. Khi người trẻ biết cống hiến bằng trí tuệ, sống bằng trái tim và hành động bằng khát vọng, thì mỗi bước chân của họ sẽ là một dấu son trên con đường phát triển của Đất Nước

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn