338. AHLLVTNH PHAN BỘI CHÂU
"Phan Bội Châu (tên cũ là Phan Văn San).Vì tên San trùng với tên húy vua Duy Tân (Vĩnh San) nên phải đổi thành Phan Bội Châu.Ông có hiệu là Hải Thụ, về sau đổi là Sào Nam. Phan Bội Châu còn có nhiều biệt hiệu và bút danh khác như Thị Hán, Phan Giải San, Sào Nam Tử, Hạo Sinh, Hiếu Hán …
Phan Bội Châu sinh ngày 26 tháng 12 năm 1867, trong một gia đình nhà Nho nghèo tại làng Đan Nhiễm, xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Cha ông là Phan Văn Phổ, mẹ là Nguyễn Thị Nhàn. Ông nổi tiếng thông minh từ bé, năm 6 tuổi học 3 ngày thuộc hết Tam Tự Kinh, 7 tuổi ông đã đọc hiểu sách Luận Ngữ, 13 tuổi ông thi đỗ đầu huyện, 16 tuổi đỗ đầu xứ, 33 tuổi đã đỗ đầu kì thi Hương ở Nghệ An.Phan Bội Châu là “ bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” ( Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Sđd, tr 70). Tên tuổi của Ông gắn với cuộ đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam 25 năm đầu thế kỉ XX.
Đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu chủ trương dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài, chủ yếu là Nhật Bản để đánh Pháp giành độc lập dân tộc, thiết lâp một nhà nước theo mô hình quân chủ lập hiến của Nhật. Phan Bội Châu đã nêu rõ nhiệm vụ đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc. Con đường cứu nước của Phan Bội Châu là “cứu nước để cứu dân”. Ở đây ta thấy điểm tích cực trong khuynh hướng cứu nước của Phan Bội Châu là ông đã xác định được đúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, vì vậy ông nêu rõ mục tiêu là đánh đuổi Pháp thì mới có thể giành được độc lập tự do cho nhân dân. Phan Bôi Châu đã chọn Kì Ngoại Hào Cường Để (cháu 6 đời của Vua Gia Long) làm hội chủ nghĩa là Phan Bội Châu muốn quay lại chế độ quân chủ. Vì lúc này tư tưởng trung quân ái quốc vẫn còn tồn tại trong nhận thức của Phan Bội Châu và nhân dân nên để thu hút sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân, Phan Bội Châu đã lợi dụng tư tưởng trung quân ái quốc để tập hợp lực lượng. Rõ ràng ta thấy lúc này ở Việt Nam vẫn còn vua Thành Thái nhưng Phan Bội Châu đã chọn cho mình một Ông Vua là Cường Để có tinh thần chống Pháp chứ không phải một ông Vua chính danh nhưng bù nhìn như Thành Thái.Phan Bội Châu đã xác định phương pháp cách mạng là bạo đông vũ trang cần thiết là đúng vì bản chất của các thế lực thù địch là chúng chống phá ta bằng quân sự vì vậy phải bạo động quân sự. Ông cũng đã thành lập các tổ chức cách mạng bao gồm hội Duy Tân, hội Cống Hiến được thành lập ở Tokyo, cơ quan liên lạc và Công hội Thương đoàn được thành lập ở Hồng Kông. Tiếp đó Ông tổ chức phong trào Đông Du (1905- 1908) đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập. Phan Bội Châu đã gửi học sinh sang trường Học hiệu Chấn Võ tại Tokyo cùng với trường Thư viện Đồng Văn Tokyo. Tuy nhiên đến tháng 8/1908 chính phủ Nhật cấu kết với Pháp trục xuất lưu học sinh kể cả Phan Bội Châu về nước. Giữa lúc cách mạng Tân Hợi bùng nổ và thắng lợi (1911), ông về Trung Quốc lập ra Việt Nam Quang Phục Hội (1912) với mục đích tập hợp lực lượng đánh đuổi Pháp khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng Hòa Dân Quốc Việt Nam. Sự ra đời của Việt Nam Quang Phục Hội đánh dấu sự phát triển trong tư tưởng của Phan Bội Châu từ quân chủ lập hiến lên dân chủ tư sản.Trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp của dân tộc Việt Nam, Phan Bội Châu (1867–1940) được xem là nhà yêu nước tiêu biểu, người đã có nhiều hoạt động cách mạng quan trọng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ đầu thế kỉ XX, ông sớm nhận thức được tình cảnh mất nước và quyết tâm tìm con đường cứu nước phù hợp. Phan Bội Châu chủ trương giành độc lập dân tộc bằng con đường bạo động, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Năm 1904, ông sáng lập Hội Duy Tân và sau đó phát động phong trào Đông Du, đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản học tập với hi vọng đào tạo lực lượng nòng cốt cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bên cạnh đó, ông còn sử dụng ngòi bút như một vũ khí đấu tranh, viết nhiều tác phẩm có giá trị như Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư nhằm khơi dậy tinh thần yêu nước trong quần chúng. Dù các hoạt động chưa mang lại thắng lợi cuối cùng và còn hạn chế do điều kiện lịch sử, nhưng những đóng góp to lớn của Phan Bội Châu đã góp phần thức tỉnh lòng yêu nước, tạo tiền đề cho các phong trào cách mạng sau này, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.Không nản lòng trước thất bại, Phan Bội Châu tiếp tục con đường cách mạng bằng sự thay đổi lớn trong tư tưởng. Ảnh hưởng từ Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc, ông chuyển từ mục tiêu quân chủ lập hiến sang con đường Dân chủ Cộng hòa. Năm 1912, ông thành lập Việt Nam Quang Phục Hội với tôn chỉ rõ ràng: ""Đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam."" Đây là một bước tiến lịch sử, đưa tư tưởng cứu nước Việt Nam tiếp cận với xu thế chung của thời đại.
Năm 1925, cuộc đời hoạt động của ông tạm khép lại bằng sự kiện bị bắt cóc tại Thượng Hải. Tuy nhiên, vụ án Phan Bội Châu lại châm ngòi cho một làn sóng đấu tranh đòi ân xá mạnh mẽ chưa từng có trong cả nước, từ Bắc chí Nam. Sự ủng hộ rộng khắp này là minh chứng rõ ràng nhất cho uy tín, ảnh hưởng và sự đúng đắn trong con đường cách mạng mà ông đã chọn.
Dù bị giam lỏng tại Bến Ngự, Huế, đến cuối đời, Phan Bội Châu vẫn là một ""Ông Già Bến Ngự"" đầy nhiệt huyết. Ông tiếp tục viết sách (Tự phán), làm thơ để cảnh tỉnh, khích lệ đồng bào, biến nơi giam cầm thành một trung tâm tinh thần yêu nước.
Phan Bội Châu không chỉ là một nhà cách mạng mà còn là một nhà khai sáng vĩ đại. Ông là cầu nối giữa tinh thần yêu nước truyền thống và tư tưởng dân chủ hiện đại, là người đầu tiên đặt nền móng cho tư tưởng cách mạng dân tộc theo khuynh hướng tiến bộ. Cuộc đời ông là một bản anh hùng ca về sự dám nghĩ, dám làm và dám thay đổi để tìm ra ánh sáng cho dân tộc. Ngọn lửa ""xuất dương"" mà ông thắp lên trong ""thời hoa lửa"" đã truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ chiến sĩ, minh chứng hùng hồn cho sự bất diệt của lòng yêu nước và ý chí độc lập Việt Nam."



